VH Tiếng Nói Văn Học Việt Houston VH

VVH Tiếng Nói Văn-Học Việt-Houston (Viet Voice From Houston). Xin gửi bài vở về địa chỉ wendynicolennduong@post.harvard.edu. Contributing articles and commentaries should be submitted to wendynicolennduong@post.harvard.edu.

COPYRIGHT NOTICE AND DISCLAIMER

Về vấn đề bản quyền (copyright) cho tác giả Việt Nam của các bài viết được đăng tải ở đây: Chúng tôi nhận được những bài viết này từ độc giả hoặc từ các môi trường truyền thông của các nhóm người Việt, vì tác phẩm đã được phổ biến ở một môi trường công cộng nào đó. Chúng tôi mạn phép đăng tải theo lời giới thiệu của độc giả, dưới thẩm quyền "fair use exception" của luật trước tác bản quyền, vì làm việc cho mục đích giáo dục quần chúng, không vụ lợi. Nếu độc giả nào biết tác giả, xin cho chúng tôi biết để gửi lời chính thức xin phép, hoặc nếu tác giả không bằng lòng, xin cho chúng tôi biết ngay để chúng tôi lấy bài xuống theo ý của tác giả.

disclaimer re content

Quan điểm của tác giả hay độc giả trình bày ở đây không phải là quan điểm của người hay nhóm chủ trương VVFH, và vì thế chúng tôi không chịu trách nhiệm về những quan điểm hay dữ kiện đưa ra bởi tác giả hay độc giả. The views and supporting facts expressed by the authors or commenters published here are not necessarily those expressed or endorsed by VVFH or its editors. Accordingly, VVFH disclaims liability with respect to such content.

MỤC ĐÍCH:

Lời nhắn với học trò Việt Nam của giáo sư WENDI NICOLE Dương, cựu học giả FULBRIGHT Hoa Kỳ và cựu giáo sư luật đại học Denver:


Cô thành lập tập san này là đề cố gắng giữ lại những cái đẹp trong văn hóa cội nguồn của Việt Nam, đã giúp chúng ta đứng vững trên hai ngàn năm, dựa trên những giá trị đặc thù của người Việt nhưng đồng thời cũng là giá trị tổng quát của nhân loại. Hy vọng TIENG NOI VAN HOC VIET-HOUSTON, gọi tắt là VH, hay VVFH (Viet Voice from Houston) sẽ đến với người Việt trên toàn thế giới, qua độc giả thích văn chương văn học trong cả hai ngôn ngữ Việt-Anh, từ bàn tay và ánh mắt của một số it học trò Việt đang sinh sống ở Mỹ hoặc ở Việt Nam, của chính cô, cũng như của thế hệ đi trước biểu tượng là cha mẹ cô, những giáo sư ngôn ngữ.


Wendi Nicole Duong (Nhu-Nguyen) tháng tư April 2015

TRIO OF WATER LILIES

TRIO OF WATER LILIES
TRIO OF WATER LILIES enamel, markers, pen and pencil on paper. artwork by Wendi Nicole Duong copyright 2013: in all three regions of Vietnam, one can always find Hoa Sung, water lilies!
Showing posts with label NGHI LUAN. Show all posts
Showing posts with label NGHI LUAN. Show all posts

Sunday, July 19, 2020

cung tich bien va cai nhin ve van hoc VN: "thương tật VN"

http://vanviet.info/gap-go-va-tro-chuyen/phong-van-nh-van-cung-tch-bien-ky-1/
17 Tháng Bảy, 2020

Phỏng vấn nhà văn Cung Tích Biền

Phạm Viêm Phương thực hiện

Kỳ I.
Một cách Ra-Đi. Một Đời viết.
“Cái đuôi con thằn lằn đứt lìa này
biết bao giờ ráp lại
cái thân mình thương tật Việt Nam”
[Lời Nhà văn Cung Tích Biền trả lời phỏng vấn]

Phạm Viêm Phương: Thưa Nhà văn, ông đã qua xứ người được hơn ba năm rồi, và chắc mọi sinh hoạt đã đi vào nề nếp ổn định?

Cung Tích Biền: Thưa anh, nói về sự ổn định của một người cầm bút thì hơi khó, dù “ổn định” hiểu theo cái nghĩa thông thường nhất.
Tôi xin nói thật một điều. Tôi nguyện ở lại với quê nhà, và đã ở được hơn bốn mươi một [41] năm, kể từ tháng Tư năm 1975. Nay phải sang Mỹ định cư, vì vợ, các con và các cháu của tôi đã có quốc tịch từ lâu bên ấy; và, vì tuổi tác gia đình không đành để tôi sống một mình thiếu người chăm sóc tại Sàigòn; những điều kiện ấy buộc tôi phải đành lòng.
Tôi vốn thức ngủ, từ hơn ba mươi năm nay, với nhiều căn bệnh nan nguy lẫn những bệnh mãn tính cần thường trực phải có thuốc chữa trị hằng ngày tới suốt đời. Tôi là một bệnh-nhân-chuyên-nghiệp của nhiều khoa, mà tiêu biểu là hai khoa ung thư và tiểu đường, tại bệnh viện FV [Pháp Việt] Sàigòn, rất hao tiền tốn của. Tại Xứ người, tôi được cung cấp đầy đủ không sót một món thuốc trị bệnh và vật dụng y khoa nào. Có thể nói là được cấp thừa những thứ mình cần có. Bốn tháng bắt buộc xét nghiệm máu toàn bộ, và tái khám một lần. Tất cả chi phí khám bệnh, chăm sóc y tế, tiền thuốc men là do nhà nước cho không, tôi không phải chi trả một đồng cắc nào. Lại được sống trong một đất nước tương đối là có đủ các quyền tự do hành xử, một xã hội văn minh, mọi người luôn dành lòng thân ái cho nhau.
Tôi xin mở một dấu ngoặc. Tôi không có ý ca ngợi nước Mỹ, điều ấy là không cần thiết. Văn minh hay lạc hậu, giàu nghèo, xấu tốt, nơi đáng sống hay nơi đang bị cướp mất quyền sống của con người, đó là những hiện thực, cái đang-là, trên mỗi đất nước. Định mệnh đã sẵn vậy rồi. Khi trả lời, nếu những điều tôi nói có liên quan tới người Mỹ, nước Mỹ, đó chỉ là những cứ liệu cần thiết phải nêu ra, để minh chứng, khi trả lời câu hỏi, mà thôi.
Vậy, hiện nay, là ổn định, là sung túc. Ngồi trước bàn viết đủ mọi phương tiện; tự do rất mực, muốn đọc gì trên mạng Internet thì đọc, không phải vượt tường lửa; không hề có một quyển sách nào bị chính quyền cấm đoán tịch thu, phải chuyền tay xem chui; muốn viết gì thì viết, in ấn tha hồ; viết cái gì in ra cái đó, không hề có ai kiểm duyệt; chẳng bị ai tóm cổ cho vào nhà giam; hoặc cảnh cáo bằng cách cho xe cán gãy xương sườn, hoặc lọt tỏm trong lòng chiếc xe tải may mà sống sót.
Nhưng giờ đây, trong tôi, lây lất tâm thức, lại có một bất ổn khác. Đó là cái cách Ra-đi.
Với tôi, hãy còn đâu đây, trong thân phận, một cái đuôi con thằn lằn run rẩy khi phải bị đứt lìa thân mình.
Anh ra đi từ đâu? Đâu phải đến Mỹ, từ Tokyo, Luân Đôn, một Paris hoa lệ. Đâu phải chỉ thay đổi cư trú từ một nơi bình an này đến một chốn an lạc khác. Ra-Đi! Rời bỏ quê hương tôi đã có, mới ngày hôm qua, hôm nay, và những ngày mai còn xa lắc lơ, vẫn một Việt Nam trong hoàn cảnh xót xa như anh hiểu. Tất cả tình cảm, những tài sản tâm linh, đâu phải cái va-ly hành lý muốn mang theo, là gởi máy bay đi theo. Ổn định làm sao trong bước đi, mắt nhìn!
Đến một xứ sở không riêng con người, tới con vật cũng có luật lệ bảo vệ, công bình. Một nền văn hóa đã rất đỗi quen thuộc, rằng con người có thật lòng yêu thương nhau, vì mối tương sinh, trường tồn chung cùng trên một mặt đất. Sống trong một cõi người cõi vật như thế, tôi thấy mình mang một nỗi đau ám ảnh; khắc khoải hơn khi ở ngay trên quê nhà.
Nay tôi đã ngoài tám mươi tuổi. Cái kiếp bình sinh đã hóa màu, chẳng còn bừng sáng rực rỡ của nắng mai. Mỗi chiều xuống, mỗi khuya lơ, vào các blog, các facebook của bà con anh em ở quê nhà, là đầy rẫy những lời than oán, căm hờn, những tâm sự sâu thẳm, những cõi lòng khao khát tự do, những tiếc nuối bao la danh dự con người bị bất ngờ tướt đoạt.
Mà, lời-trên-mạng ấy là của ai? Chỉ những ai còn tấm lòng yêu quê hương, những tâm thức lung linh, trong ngần mong mỏi một xã hội có tự do công bằng, quyền con người được tôn trọng, bản đồ của đất nước nghìn năm mỗi ngày không bị mòn nhỏ lại, như một thân thể bị teo cơ.
Quả thật, bên kia biển, nơi bãi bờ cố quận, một trời nguy hãi, triệu con người đang trong vực thẳm. Nghĩ quẩn nghĩ lung, phải chăng mình là một kẻ ích kỷ, kẻ phụ tình, không còn cái tình chung trong chịu đựng một số phận cùng bà con anh em, với quê nhà.
Tôi thật sự thấy mình luôn không chút nào bình an.
Cái đuôi con thằn lằn đứt lìa này biết bao giờ ráp lại cái thân mình thương tật Việt Nam.

Phạm Viêm Phương: Tôi trân trọng những điều ông vừa tâm sự. Chúng tôi hiểu ông ở lại quê nhà, sau 1975 đến nay, cũng đã hơn bốn mươi mốt năm, cũng đẫm mình đầy đủ trong cuộc trầm luân như chúng tôi. Nhưng dẫu sao, và đầu tiên, ông cũng có thể kể về một ngày thường lệ, một ngày thường gặp nhất trong cuộc sống của ông không, để bạn đọc dễ hình dung ra kiểu sống và làm việc của một người cầm bút hơn sáu mươi năm?

Cung Tích Biền: Nói cho rốt ruột, một ngày đời của tôi, hô hoán cho vênh vang, Đời một nhà văn, ngày nào cũng chỉ là một ngày cằm cụi làm ra “Cái-vô-dụng”.
Nhân loại hôm nay có bao nhiêu nhu cầu thiết cấp đều đã được đáp ứng đầy đủ. Cần gì thì cần, chẳng ai cần văn chương. Đã qua thời văn chương là vũ khí, là vận động cách mạng, chấn hưng dân trí, tấm gương soi đạo lý làm người. Với “giặc corona”, người ta trữ gạo, thuốc men khẩu trang mỳ gói, chẳng ai mua về nhà vài quyển tiểu thuyết, tập truyện ngắn.
Vậy mà “Vô dụng đã hơn sáu mươi năm?” Hẳn, tôi là một người vô-dụng-chuyên-nghiệp.
Một đời thành bại nhục vinh, đói no lây lất cũng chỉ với ngòi bút và chữ nghĩa của mình. Xem Cái-Viết như một định mệnh, một hành nghiệp trọn đời.
Nơi “nhất thốn tâm tư”, chỗ tấc lòng, nghiệp oan nghiệp chướng! chỉ tự nơi người thừa nghiệp riêng biết, riêng chịu.
Tôi không ảo tưởng, chỗ tháp ngà, cho rằng việc cầm bút là một thiêng liêng cao cả, nhà văn là một kẻ cao quý hơn người. Chỉ là trời đày vào chỗ “Oan, chướng”, mà thôi. Cái nghề tồi, ta có thể đổi nghề xịn. Nghiệp chướng, thì luôn khó thoát.
Có người cho rằng viết lách chỉ là một trò chơi, tác phẩm là một đồ chơi. Chao ơi, được vầy vui sướng quá.
Những bậc tài danh cổ kim, từng lưu đời những danh tác, tất thảy đều có một lời nấu-cao-nỗi-lòng:
Với Viên Mai, “Lập thân tối hạ thị văn chương – tệ mạt nhất là dùng văn chương để lập thân”.
Nguyễn Du, “Văn tự hà tằng vi ngã dụng – chữ nghĩa ta dùng giúp được gì cho ta”
Nguyễn Khuyến cũng từa tựa Nguyễn Du thuở kia, “Sách vở ích gì cho buổi ấy!”
Nguyễn Vỹ thì chén cơm manh áo hơn, “Nhà văn An Nam khổ như chó”.
Biết vậy, được răn đe vậy, nhưng tôi đã trót chọn Con đường chữ nghĩa từ thuở đầu đời, lúc hồn lâng lâng, trái tim hai mươi bừng nở tình yêu, hy vọng. Hôm nay, già mái đầu mới thấy ra, Tản Đà phán đúng bon, “Văn chương hạ giới rẻ như bèo”. Tuy vậy cũng đành sùng bái cái nghiệp đã trót mang. Khó mà giữa đàng “dứt gánh tương tư”.
Trả lại cho ai đây? Trả lại ông Phật, Đức Chúa, Mẹ cha!
Chết đi, được ông Trời cho vào trại học tập cải tạo, đề mần người kiếp sau; kiếp sau, tôi vẫn nguyện làm cái việc “tối hạ”. Tôi, kẻ vớt bèo.
Đôi khi nghĩ xà quần, y rằng đánh lận con đen, là vầy:
Làm ra cái “hữu dụng”, sẽ luôn bâng khuâng, “Có một ngày nó chẳng còn hữu dụng”.
Làm ra cái “vô dụng” ta luôn nuôi hy vọng, “Sẽ một ngày nó hữu dụng”.
Có gì thảm trạng hơn, bám vào cái vô dụng mà sống, suốt cả một đời người.

Phạm Viêm Phương: Đành vậy, mong ông trở lại với câu hỏi, chỗ sinh hoạt bình thường, nơi ông gọi là một kiếp-phận-đã-rồi.

Cung Tích Biền: Một ngày thường lệ, một ngày thường gặp nhất trong cuộc sống của một nhà văn? Đó luôn là một ngày bất thường so với cuộc sống bình thường của mọi người.
Hắn, cái từ thân yêu nhất để gọi, cũng như mọi người, một ngày như mọi ngày, cần ăn uống, ngủ nghỉ, giải trí, làm việc. Được liệt vào loại “lao động trí óc”, hắn lại khác với những nghề “lao động trí óc” khác.
Luôn riêng biệt trong mọi sinh hoạt cộng đồng, và luôn cô đơn dù ngay trong gia đình, họ hàng. Có thể, được nhiều người quý trọng, nhưng người được quý trọng ấy luôn lánh mặt, ẩn mình để được riêng cõi tịch mịch.
Cho dù có dịp uống cùng bữa rượu, cốc cà phê, trò chuyện chỗ đông anh em, hắn vẫn luôn là kẻ một-mình. Một hắn chỗ chung chạ, và một hắn nữa là cái phần phân thân, tách thoát. Ăn ngủ trong đời thực, viết lách với cõi riêng tây, mộng ảo.
Cầm bút, với hắn, không là nghề tay trái. Không công sở, không lệ thuộc vào bất cứ giờ giấc nào do tập thể quy định. Nếu có sự quy định, sự lệ thuộc, ra kỷ luật, hoặc “vô kỷ luật”, giả dụ khi khỏe mạnh đi rong chơi, không muốn làm việc, lại lúc mệt mỏi, nhưng được gợi hứng, có thể làm việc cực lực thâu đêm; ấy là do tự thân quyết định.
Suy tư kịch liệt hay mộng mơ thơ thẩn, nhà văn cũng phải ra công lao động, miệt mài tối sớm mới có tác phẩm. Nhưng sự gia công ấy qua một thể thái thoát thường.
Một ngày, mọi người có tám giờ đồng hồ để làm việc, hắn có thể không làm gì cả, vì không chút hứng gợi. Đêm, khi mọi người yên ngủ, bên ánh đèn, hắn một mình, cặm cụi thâu đêm. Ấy là lúc, bị thao túng bởi cuộc viễn du trong mộng tưởng. Thế giới của hắn là từ một cõi đời có thật, một nhân gian cụ thể, được mang vào trí tưởng, và tu sửa nó, biến hóa nó theo mực độ trí tuệ và tài năng riêng mình có. Nhà văn, ăn ngủ, yêu đương, làm tình, đi về, hít thở trong hoa cỏ bụi bặm, vạn sự có thật ấy, và “tác phẩm của hắn đi ra”, phải/ là /có /của, một thế giới khác, có khi huyền ảo, trừu tượng, siêu thực.
Một cách khác, nhà văn “hành nghề”, có thể, với-một-cái-không-có-thật, lẫn một-cái-gì-chỉ-có-thật-qua-biểu-cảm-trừu-tượng. Thường hằng “vật liệu, chất liệu” để viết, là những hoằng viễn liên tưởng, mộng tưởng; luôn là nối kết hiện thực với tiềm thức; cả với cái đã mất tích là vô thức, nay bỗng hiện về, điều động nhà văn lúc sáng tác. Hắn có thể nương nhờ thần linh biến hóa qua ngòi bút, để cái tục lụy, cõi nhân gian này trở nên đa biểu hiện, rõ mặt hơn.
Vì câu hỏi anh nêu, có dính dấp tới “cái sống“, “kiểu sống” và của “sáu mươi năm cầm bút của tôi”, nên tôi phải nói rộng ra, cho cạn nguồn cơn.
Một ngày của tôi, luôn là viết và đọc. Ham đó đây, tâm tình với người trong trang sách, đánh cờ tướng với một hảo thủ ảo trên màn vi tính, rong chơi thơ thẩn với chim chóc hươu nai nhảy nhót trong trí tưởng. Lúc nhắm mắt, tôi thấy cõi đời thần tiên hơn khi mở mắt thấy rõ hạt bụi con ruồi bay.
Khi viết, nếu lúc không gõ ngón tay lên bàn phím, tôi thường ngửa đầu ra phía sau, nhắm tít hai con mắt, không gặp thần linh thì cũng có lũ quỷ quây vờn. Truyện của tôi, anh thấy, hào phóng là những cái chết, kiểu cách chết, buồn nản chết, hăng hái chết, ma quỷ thánh thần luôn thay đổi chỗ ngồi cho nhau.
Mỗi ngày sống, mỗi đêm ngủ, chừng là tôi có gian díu với cõi vô hình, bị trói cột vào những đời đã mất; lọt tỏm vào cái hồ cái hang tiền kiếp. Chừng có thần linh vây bủa, có bọn âm binh tác động; tôi nhờ chúng, như ca sĩ nhờ ban nhạc, thêm nhịp điệu, thanh âm hô hoán. Tôi luôn nhờ cái hoang mị, huyền ảo, những cảm hứng “ngoài cõi” nghi ngút trợ lực. Anh đọc truyện tôi viết, là, đầy rẫy Xác-xương-máu-mùi-bóng-quỷ, hẳn anh hiểu. `
Tuy nhiên may mắn có nhiều đêm êm đềm, tôi thường mơ thấy những cảnh trí thơ mộng, những thị trấn nắng mới, bến sông, vòm biển với ghe thuyền. Cái lạ, thường lúc về sáng, chen lẫn trong cơn ngủ lơ mơ, là văng vẳng tiếng người, kể như ru, một câu chuyện, rất rõ đầu đuôi. Trong các sáng tác của tôi, có rất nhiều ảnh hưởng từ những câu chuyện kể, của kẻ vắng mặt này.

Phạm Viêm Phương: Nhưng hiện nay ông đang sống tại Mỹ, một xứ sở bên kia trái đất, thực tế là vạn sự khác biệt, hẳn nó tác động một cách triệt để tới việc sáng tác [suy nghĩ và làm việc] của ông? Ông có thể nói rõ hơn.

Cung Tích Biền: Ở trong nước, tôi như con mèo bị trụng nước…“sôi”, sang tới đây tôi là con mèo được tắm nước lạnh, nước lại được lọc sạch kỹ lưỡng. Cả hai hoàn cảnh, đều làm cho ta phải kinh ngạc.
Ở một nơi toàn bóng tối, một nơi thường trực chói lòa ánh dương, cả hai đều là sự bất bình thường.
Trong hai cái bất bình thường đông tây, tôi chọn Việt Nam, nơi, mới đúng nghĩa bất bình thường.
Quê nhà, bao nhiêu năm, là một kịch trường, bi hài đâu ra đó, hí lộng tràn đầy, kích động mê man; ác lạ, bạt mạng, cuồng si, đều ở đỉnh. Là, quyến rũ, thôi thúc người cầm bút phải nên-viết-một-cái-gì. Muốn viết một-triệu-cái-gì, cuộc thế quê hương tôi sẵn sàng có hơn một triệu cái gì, để viết. Lòng người, luôn cơn lốc, bộ não núi lửa, trái tim chập điện. Ngôn ngữ không êm đềm, đã thường trực trở ra hằn học, u uất. Dân chúng rất thừa mứa những nỗi oan, quan lại thì heo hút lương tri.
Nói túm cái quần què, những chất liệu phi luân tồi tệ, bãi rác vũng lầy, ruồi nhặng thần linh trà trộn, quỷ ma thánh thần chào bái nhau chia nhau tro cốt những xác chết dân lành, là nguồn cung cấp vô bờ, là thác đổ vào sự phong phú trên những trang chữ cho những ai dụng chữ thành văn.
Nhà văn đứng sừng sững trên bãi oan khiên. Chỗ này, tựa là lúc nhà vua đã an tọa vững chãi trên ngai vàng.
Ví rằng, xã hội thời nàng Thúy Kiều nếu không đầy mùi xú ế, quan lại không là đám diều quạ kên kên, em gái xinh đẹp Vương Thúy Kiều, gốc người An Giang, miền Tây Nam bộ không bị gia oan, thì đâu đến nỗi phải “xung phong mần đĩ” “ký hợp đồng dài hạn mười lăm năm lưu lạc” chỉ để thay cha, cứu nhà! Nếu không ứa máu đỉnh núi oan, Nguyễn Du mần răng trở thành thiên tài sẽ nghìn năm trong văn học.
Nhà văn, con bò gặm cỏ, bỏ đồng cỏ xanh Việt Nam hôm nay mà ra đi, thì thật uổng của. Lão nhà văn Cung Tích Biền nhất thiết không nên rời bỏ “Nơi tràn đầy thức ăn cho ngòi bút”; đồng xanh bao la, con bò Biền ăn no bụng, ăn thừa mứa, lúc khuya lơ trăng bạc thì ói ra, nhai lại trên trang giấy; hà tất đành chốn nơi mà ra đi.
Một nhà đấu tranh cho tự do nhân quyền, Việt Nam Hôm nay, cũng vậy. Tới được bến bờ tự do, thì, “Hết việc để làm”. Là, chìm lỉm xuống cái đáy tịch mịch. Bọn trẻ Phây với Búc chúng gọi là hết xíu quách.
Trong đấu tranh, để cấp cứu lâm nguy cấp thời, tình trạng ngộp thở nơi “quê ta hôm nay”, không có loại “Cách mạng từ xa”- remote. Một sống một chết phải ngay chỗ máu lửa, không thể cách ly hiện trường.

Phạm Viêm Phương: Nhưng một nhà văn hãy còn biết bao đề tài khác, những tình yêu khác, giảm đi sự thù hận thì ta ca ngợi tự do! Ông nghĩ sao về hai thế sự này.

Cung Tích Biền: Tôi hiểu, không phải chỉ trong môi trường sống đầy khổ nhục, bất công, mất quyền làm người mới có văn chương. Nhưng là một nhà văn Việt Nam hôm nay, không có gì khác hơn, để làm mồi nhóm lửa. Bếp lửa, trong nồi nấu không có gì ngoài máu thịt Việt Nam anh em của nhau. Luộc chín bạn bè. Nấu rục thiếu niên lấy xíu quách tính số lượng anh hùng. Văn chương không tự có bằng cách thủ dâm với những hạnh phúc, những tình người không có thực. Nhà văn, không sẵn sàng mang xà phòng thau nước đến rửa những bàn máu cho bọn sát nhân. Hãy cứ Viết ra sự thật. Hãy cứ nói về sự thật đi. Đành lòng dùng dao kéo mổ tử thi.
Đúng là như anh hỏi,“Hãy còn biết bao đề tài khác, những tình yêu khác, giảm đi sự thù hận thì ta ca ngợi tự do!”
Trong hiện tình, với tôi, là chưa đủ bình tâm, sẵn một cõi lòng say đắm để ca ngợi những tình yêu không kém phần cao quý, tình yêu thiên nhiên, tình yêu nam nữ, vợ chồng.
Nói theo cách gồng mình hô khẩu hiệu là như vầy: “Bao nhiêu tình yêu đều nằm dưới tình yêu đất nước. Bao nhiêu nỗi âu lo riêng tư đều phải nằm dưới nỗi lo chung của cộng đồng, nòi giống”. Ác nỗi, khẩu hiệu thì chán, nhưng khẩu hiệu này ta luôn phải thuộc nằm lòng.
Để có món ăn lạ, khổ đau và hạnh phúc, tự do và bất hạnh, tôi xin đưa ra một đề tài để bàn luận chơi. “Đời sống mấy con chó”.
Một nơi, nuôi một con chó – gọi chung là pet, vật nuôi — phải làm sao cho nó ngày ngày sung sướng. Nó được gắn vào người một con chíp, để tiện theo dõi, phòng khi nó đi lạc, nhờ cảnh sát tìm về. Anh phải nộp tiền phạt vì lỗi thiếu chăm sóc con pet để cho nó đi lạc.
Nó có cái “nhân vị”. Anh đánh đập hành hạ nó, bỏ nó đói, đau không đưa đi bác sĩ thú y chữa trị, nó chết thảm, nếu bị khám phá ra, tùy mỗi trường hợp anh sẽ bị phạt tiền, tù. Có cửa hàng thức ăn, bánh kẹo đóng hộp, khu bán thuốc chữa bệnh, khu bán hàng đồ chơi, có cả khách sạn, tất cả là dành riêng cho pet. Tất cả là phải được kiểm nghiệm, thẩm tra, phải hợp vệ sinh, không nhiễm độc, đúng tiêu chuẩn.
Mỗi vài tuần đưa con chó tới thẩm mỹ viện – đương nhiên là dành riêng cho chó – chăm sóc sắc đẹp, tỉa lông, lông mi mày, ráy tai, nhỏ thuốc vào mắt… chi phí một trăm đô la Mỹ. Tất cả những việc làm này dành cho con vật là với tình thương, sự âu yếm rất mực của người chủ vật nuôi.
Lại một nơi khác, thường xuyên trên con đường quốc lộ xuyện Việt, từ Sàigòn ra Hà Nội; anh thử ra ngóng gió, vừa ngáp, và nhìn vẻ đẹp quê ta; thời tiết nắng nóng nung người; anh sẽ thấy từng tốp xe tải, hầu hết là chạy về phương Bắc. Hàng chục cái mõm chó tội nghiệp thò ra khỏi cái ô lưới sắt. Xe chạy vun vút. Chúng thở dốc, cái lưỡi trắng nhợt thè ra, thòng gần xuống cổ. Chúng tìm chút gió thoảng. Chúng sắp chết khát, qua những đôi mắt lạc thần cầu xin vài giọt nước. Một chuyến xe hôi thối mùi súc vật lâu ngày không hề được tắm rửa. Chuyến đi này là “Đường về Tây phương cực lạc” của số phận.
Anh nên ca ngợi hạnh phúc của loài pet kia, hay dành đáy lòng chia sẻ với những con vật bất hạnh này.
Anh nghĩ dùm tôi, chừng non một trăm năm nữa, con chó thè lưỡi, có thể có được một “cuộc đời” như con chó từ thẩm mỹ viện kia không.

Phạm Viêm Phương: Tuy thế, với một nhà văn chuyên nghiệp, theo quy luật thích ứng, được tiếp cận vùng đất mới, mọi sự mới, hẳn ông sẽ còn cảm hứng để viết?
Cung Tích Biền: Tôi vẫn viết, nhưng không với một cái não u uất, và một trái-tim-thuốc-nổ như khi còn ở quê nhà. Mỗi sớm mai, mở cửa nhà bước ra, là nơi chốn cách biệt nửa vòng trái đất. Nam California, miền Tây Mỹ, nơi được thiên nhiên ưu đãi, mùa hè không quá nóng, mùa đông không tuyết đổ dày như ở miền Đông. Khí hậu trong lành, vòm trời luôn thanh thản, mây từng sợi nhỏ như tro bụi loãng tan trong nền cao rộng xanh lơ, quanh năm không bão lũ. Môi trường nhân gian để hòa mình, là phẳng lặng, dịu êm.
Ác nhơn, sự ưu đãi này lại là một cái hại cho văn chương, ít ra là với riêng tôi, lúc này. Lúc viết, chữ nghĩa có thoáng đãng, bay lộng, thể hiện sự thông tuệ. “Viết”, chừng là một thú tiêu dao. Phong vận ấy, cũng là một hữu ích cho sáng tác, đối với một nhà văn khi đã thoát ly đất nước tù đày của mình.
Được tiếp cận cái mới, xã hội mới, được tự do với ngòi bút; tĩnh lặng trong hồi tưởng; thoát ra khỏi cuộc trùng vây của bất hạnh; người sáng tạo ấy có thể, mất cái này nhưng được cái kia; sẽ tạo nên những tác phẩm lớn lao, vượt thoát, khác xa với những gì mình đã viết trước đó. Nói chung, có thể là tác phẩm để đời. Nhưng sự may mắn này, hãy còn là một điều đang chờ đợi đối với tôi. Chữ nghĩa không dễ thay như thay áo. Vì tôi đã sống, đã quen, hơn nửa thế kỷ trong tuổi đời, với những điều đáng rùng mình hơn là những nụ cười hạnh phúc.

Phạm Viêm Phương: Nhưng kinh nghiệm cho thấy, trong bất cứ hoàn cảnh nào bấy nay, ông cũng có tác phẩm mới. Mong ông cho biết những dự án hay chương trình nào về văn chương học thuật, trong tương lai?

Cung Tích Biền: Về những dự phóng tương lai? Tôi không có dự án, hoặc chương trình nào về văn nghệ như anh hỏi. Không phải từ bây giờ, mà trước đây cũng vậy. Hành trình viết của tôi, là con tằm ăn dâu. Tà tà. Từ tốn. Thế giới của nó là trong cái nong, cái nia nhỏ bé. Cuộc đời, cõi đời, chỉ là cái vòng tròn quanh quẩn. Nhưng mỗi giai đoạn trong tiến trình của nó, từ trứng ra con sâu, sâu ra tằm, từ màu xanh lá dâu biến ra sợi tơ vàng, mỗi/ một giai đoạn là mỗi lột xác, hóa thân một cách triệt để. Rất nhiều kiếp trong một “đời” nó.
Bây giờ con kén đã bị cho vào nồi nước sôi; nó bị lột hết, trả sạch cho cuộc-hóa-ra-sợi-tơ rồi; tôi đã thành con nhộng. Một loài không lông không cánh, không đầu chẳng đuôi, lòng ruột nó đã làm hết việc hiến dâng của đời nó rồi.
Tôi không tự mãn, hài lòng với những gì mình đã viết, cho là quá đủ rồi. Nhưng là một người đã trọng tuổi, nay, viết được gì nữa thì viết, không thì thôi. Không tìm kiếm gì nữa. Chẳng mong đợi gì thêm. Không còn gì buồn vui. Thành tựu hay thất bại, đều có thể. Có hay không, gọi “Có” rằng “Không”, hay gọi ngược lại, đều không sai trái gì.
Những người cùng thế hệ với tôi, tập tành lai rai, nhưng đầy đam mê, đi vào con đường văn chương nghệ thuật khoảng những năm 1950s, đã thành danh từ thời Cộng Hòa. Vì nhiều lý do, thời cuộc, số mệnh, anh em đã buông bút, không còn viết gì nữa, đã trên dưới hai mươi năm nay. Phần lớn khác, đã ra người trăm năm cũ. Nhìn lại, một nẻo dài hun hút. Chúng tôi như khoét sâu lịch sử mà rúc vô.
Đi cùng cuộc chiến hay bên lề cuộc chiến; vào quân trường với cây súng hay tìm mọi cách trốn quân dịch; sống thực tiễn hay mơ màng, buồn nôn phi lý; là một người hào sảng phung phí cả trí tuệ, lý tưởng, máu xương cho số phận chung, hay một kẻ ti tiện thu vén cho riêng mình; và, sau cuộc hoang tàn, những ai được tự do dù thân phận lưu vong, hay một “lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa”- [thơ Vũ Hoàng Chương], ở lại quê nhà với khốn nhục tù đày; tất cả, đối với lớp chúng tôi, giờ đây chừng là hình bóng xa xăm như từ kiếp trước. Chừng là bỏ lại dọc dài trên hành trình lịch sử là những chiếc mề đay lẫn những đôi nạng. Chừng là những mái đầu bạc, hôm nay, thầm chia sẻ cùng nhau một thời đại Việt Nam, một thời hiếm hoi, lạ lùng nhất trong lịch sử nhân loại.
Tôi cùng đi một thời với những số phận ấy. May mắn, một ít chúng tôi, còn sống rán. Chỉ thủ vai, “Một sinh-vật-trong-sổ-đỏ, chờ diệt chủng”, như các anh thường nói đùa mỗi lần nhậu mút chỉ với tôi. Trong nụ cười, chúng ta vẫn nghe xa xăm những tiếng khóc.
Tôi cũng hiểu một ít đạo lý Đông phương, tia sáng an thiền. Một người vào bực thềm tuổi 85 như tôi, thì chẳng nên hứa hẹn gì với tương lai. Không nên vung vít, va vịn vào những tham lam không phải đạo.
Đêm đặt lưng xuống giường, đêm nào của tôi hôm nay, cũng có thể là đêm cuối cùng. Tôi viết một truyện luôn nghĩ là truyện cuối cùng. Mỗi câu, mỗi chữ là mỗi cái bắt tay, rất thân ái, trên đường tiễn biệt. “Chào chữ nghĩa, Ta đi”
Nghĩ vậy, sớm mai lỡ mình còn thức dậy, còn nở nụ cười dưới ánh dương, nhận ra mình còn tràn đầy hạnh phúc trời cho. Đặt bước chân lên con đường hôm qua, luôn nghĩ đây là một con đường mới, con đường đứa bé vừa bước đi những bước đầu đời… Mỗi sớm mai, một ngỡ ngàng. Đứa bé, chưa có quá khứ, đang còn chờ tương lai! Nó chưa dám hứa hẹn gì với Những-Ngày-Sẽ-Lớn.
Tái sinh! Vậy cũng nên viết thêm một cái gì. Viết thêm được một cái gì, ấy là do cái phận tái sinh.
Tôi hằng nghĩ ra câu chuyện như vầy. Xưa, có ba người bạn già đi trong đường núi. Thấy một viên đá tảng nâu đen, quá đẹp quá lớn, một người bỗng chỉ tay vào tảng đá, mà nói: “Kiếp trước Ta là tảng đá này. Kiếp sau, Ta là tảng đá này”. Nhiều năm sau ba lão đã ra người thiên cổ. Nơi đường núi ba người từng đi qua, bên cạnh tảng đá có sẵn đã hiện thêm hai tảng nữa. Một cụm ba. Đã hóa đá, vẫn còn Tìm nhau.

Phạm Viêm Phương Xem ra ông rất còn yêu đời, một điều đáng quý. Theo chỗ tôi biết, hầu hết các tác gia sau khi viết xong một tác phẩm thường là cho công bố và in thành sách sau đó không bao lâu. Điều này rất tiện lợi cho độc giả, khỏi phải lục tìm rời rạc đó đây trên các báo giấy hoặc trên các trang mạng.
Riêng ông, một đời dài làm việc, ông viết rất nhiều, và liên tục, từ trước 1975, sau 1975 ở trong nước, và bây giờ ra khỏi nước ông vẫn công bố nhiều tác phẩm mới viết gần đây. Nhưng đầu sách ông cho in ra là rất ít so với những gì ông đã viết. Vì lý do gì? Ông nghĩ gì về việc này?

Cung Tích Biền: Câu hỏi rất thú vị. Ngày nay có những phương cách lưu giữ tài liệu theo kỹ thuật tân tiến, có thể trăm năm còn. Trước 1975, chỉ có cách in ra thành một quyển sách mới lưu giữ được lâu bền những gì mình đã viết, lại tiện cho người đời về sau, muốn truy tìm tài/ tư liệu về một tác giả.
Nói về thời Cộng Hòa, tôi có nhiều sai quấy về việc in sách. Phụ bạc cái chữ mình viết ra. Do nhiều lý do:
- Thời chinh chiến, tôi là một người lính, sống chết biết lúc nào, viết rồi, báo hỏi bài, đưa đăng ngay. Không ít trong đó, chỉ là bản sơ thảo. Rất may, nó đã khá hoàn chỉnh.
- Mỗi sớm mai, chiều chiều, khuya khoắt, hễ ngồi vào bàn viết là tôi bị ý tưởng trào dâng, chỉ có viết và viết cái mới, không có khoảng trống cho việc đọc lại cái gì mình đã viết qua. Do vậy, bản thảo quá nhiều, bài chưa đăng cũng còn rất nhiều.
Hiện nay, số bài viết, loại sơ thảo, xem như tài liệu trong ngăn kéo của tôi, tôi in ra trên giấy A4 [không phải sách] để lưu lại cho vợ con. Về sau người ta muốn in thì in bằng không thì bỏ/vất đi.
- Thời trai trẻ đầy tự mãn, nghĩ rằng, nếu tác phẩm mình có giá trị, đời nay mình không in, thì mai sau, cũng có kẻ liên tài, vì chữ nghĩa, vì đòi hỏi của người đọc, người ta sẽ in tác phẩm của mình.
Hóa ra, sau 1975, sách báo bị đốt bỏ, bị cấm in ấn lưu hành. Tất cả là trụi hủi. Một thời viết, trở ra đồi hoang núi trọc.
Nếu trước kia tôi in cho xong phần đã viết – đương nhiên một mớ, nay nó có thể lỗi thời, xưa rồi Tám – nhưng hãy còn những sách trong thân phận sống sót. Bây giờ nếu muốn in lại những tác phẩm của tôi trước 1975, xem là tương đối còn chút giá trị lưu đời, thì không thể. Xem như tuyệt bản.
Tất cả thư viện tại Việt Nam, người ta vừa muốn lưu trữ vừa muốn “Cho chết mẹ mày đi”, nên việc sưu tầm rất khó. Tất cả các tạp chí có giá trị, như Bách Khoa, Văn Học, Sáng Tạo, Nghệ Thuật, Khởi Hành…đều không còn trọn bộ, có số này mất số kia.
Mà chẳng dễ gì tự thân nhà văn Miền Nam, trong trường hợp của tôi, làm được cái việc sao lục tác phẩm của mình.
Một lần, năm 2005, tôi đã làm đơn xin phép sao lục. Bao lần khó khăn, sao lục được một mớ, nhưng sau cùng thư viện xét lại, không cho tôi đem ra khỏi thư viện.
Lý do, văn chương phản động.

Phạm Viêm Phương: Theo chỗ tôi biết, có nhiều thư viện lớn của Mỹ hiện vẫn còn lưu trữ tất cả những gì được in ấn thời Việt Nam Công Hòa, rất tiện cho việc sưu tập. Ông có nghĩ rằng những gì ông cho là tuyệt bản vẫn có thể tìm thấy ở những nơi này?

Cung Tích Biền: Đúng là như vậy. Một số tác phẩm tôi nghĩ là nay nó chẳng còn vết tích, nhà văn Trần Hoài Thư đã tìm thấy tại các thư viện Mỹ. Phần lớn nằm trong thư viện Đại học Corneil. Truy tầm ra, ông đã rải rác cho đăng lại trên Thư Quán Bản thảo — một tạp chí do ông chủ trương tại Mỹ, mục đích bảo tồn văn học Miền Nam 1954-1975. Nhân đây, một Lời nặng tình, tôi xin cảm ơn Nhà văn Trần Hoài Thư.
Từ nay, sang được nơi có tự do in ấn, tôi sẽ cố gắng, được chừng nào hay chừng đó, thu dọn, một cách làm vườn, đốt lá khô chiều tà, để rồi lần lượt in thành sách những gì mình đã viết. Nhiều lắm, rất nhiều, những sáng tác thuộc nhiều thể loại, cả những tác phẩm xuất hiện trên các trang mạng Internet, nay vẫn chưa in thành sách.
Không hiểu ra làm sao, mỗi thể tài dù nhỏ nhoi, tôi cũng viết một phùa tới ba bốn nghìn chữ. Mỗi truyện “Cây đa đầu làng”, tôi viết đăng bốn kỳ tuần báo Đời, 1968, một thiên thời sự, nhiều độc giả rất ưa thích, nay đã không còn lưu giữ được một trang nào. Nhiều truyện vừa, những truyện dài, đăng báo Nghệ Thuật, Khởi Hành, Đời, Quần Chúng, chưa kể nhiều tiểu thuyết feuilleton, xuất hiện trên các nhật báo Độc Lập, Đông Phương, Dân Chúng, Điện Tín, Sóng Thần, Hòa Bình... nay tôi chưa hề in một quyển nào.
Nói vậy, giày dép còn có số. Đã vậy hay vậy. Từ từ “ Gỡ rối tơ lòng… thòng”.


http://vanviet.info/gap-go-va-tro-chuyen/phong-van-nh-van-cung-tch-bien-ky-2/
18 Tháng Bảy, 2020

Kỳ II.
Tiếng Nói của Đời. Tiếng Nói của Chữ.
“Văn chương, gọi là sống, khi nó còn Tiếng Nói. Tiếng Nói cho hôm nay. Tiếng Nói vì mai sau”.

Phạm Viêm Phương: Nhân nói về tác phẩm của ông, tôi muốn hỏi về bộ hồi ký. Đọc bài phỏng vấn ông trên trang mạng www.talawas.org năm 2007, tôi thấy Lý Đợi có đề cập tới bộ hồi ký của ông. Hồi ký cũng là thể loại độc giả luôn tìm đọc Trên một thập niên rồi hẳn ông đã hoàn thành?

CungTích Biền: Chưa hoàn thành. Chỉ có thể hoàn thành khi chính tôi phải tuân thủ một số tiêu chí nghiêm ngặt khi viết hồi ký.
Hồi ký là một loại rất dễ viết, nhưng với tôi, lại rất khó.
Phạm Viêm Phương: Vì sao lại trớ trêu, khó lẫn dễ trong thể loại này?

Cung Tích Biền: Hồi ký là một thể loại dễ viết nhất, mà cũng là khó viết nhất. Cả hai đều đúng bon cả.
Dễ viết, là một người Việt Nam, sống qua một lịch sử khá kỳ lạ non thế kỷ nay, nếu muốn viết về cuộc đời từng trải của mình, thì bất cứ ai cũng có thể viết nên một quyển hồi ký.
Một cô gái lớn lên vào thời chiến chinh, bỏ đồng quê làng mạc, chạy nạn vào thành phố, giàu có nói chi, tới bao nhiêu gian truân, có khi làm đĩ nuôi con; có khi lấy một lính Mỹ, theo chồng Mỹ qua Mỹ thời hậu chiến, bao nhiêu vật đổi sao dời. Một cô gái đẹp, phải nhà nghèo, đành lấy chồng người Hàn Quốc, cả người cà thọt, anh cà nhỏng; thu món tiền lo cho cha mẹ, già bệnh nợ nần; sống trên đất người, cho tới ngày luống tuổi, đêm hắt hiu, chiều tàn hương bên xứ người, thương cha nhớ mẹ, mái nhà bụi chuối, đám bèo trôi miền sông Tiền sông Hậu.
Một người lính Cộng hòa, đẫm máu trận mạc, là một thương binh, nạn nhân của một kẻ thù cùng chung họ hàng huyết thống, nay chống nạng đi giữa Sàigòn bán vé số, con cái bị đuổi khỏi trường, vợ bị bệnh tâm thần, nhà dăm mái tôn nóng nung người, gạo đong từng bữa; lâu lâu có chút tiền được đồng đội cũ thương tình từ nước ngoài gởi về cho, tức khắc bị an ninh phường làm khó, tịch thu…
Muôn vạn cái sự đời tưởng khó xảy ra lại là chuyện thường ngày, cơm bữa trên Xứ Việt.
Ông trời thương tình, cho mỗi phận người chúng ta quá nhiều “chất liệu” lẫn “chất lượng” sống. Ngay cái chết, xác chết cũng nhiều màu. Cờ vàng chết vàng. Cờ đỏ chết đỏ. Vàng đỏ pha lộn tùng phèo, thì chết nâu. Chết nâu kéo dài hơi lâu. Phải tốn vài mươi năm sau để hối hận, phản tỉnh vì hai chân bước nhầm, trí não mê sảng một thời, trái tim hóa ra nồi cơm thiu ngay tuổi thanh xuân. Dưới bóng mặt trời hóa ra Người-mất-Bóng.
Mỗi đời người Việt Nam là một vở trường kịch, một tiểu thuyết tâm tình, một hồi ký đáng đọc.
Dễ viết, vì đó là kể về đời mình, sống thế nào viết/kể ra thế ấy. Không cần hư cấu, tưởng tượng, tìm tòi; mọi thứ đã có sẵn, cứ tuần tự theo trí nhớ; như có sẵn gạo, đủ nước, sẵn củi, thì đổ vô nồi mà nấu. Gạo ngon thì cơm ngon. Đời nhiều éo le uẩn khúc, các nhà văn học giả, tài tử giai nhân, tướng tá trận mạc, bậc quan quyền, dính líu tới đủ thứ vận mệnh chung, của lịch sử, của thế gian một thời, thì hồi ký của họ càng nhiều người tìm hiểu, cần đọc.
Khó viết, vì trước khi viết phải tự hiểu mình là ai. Cái đời mình có là một tượng trưng, qua đó người hậu thế nhặt ra được gì từ quá khứ, mang giá trị khái quát về lịch sử, xã hội… một thời. Viết, để bàn thờ cho riêng con cháu mình đọc, để biết ông cố nội thuở ấy sống ra sao, khác với những gì cần công bố cho toàn thể, đời sau.
Khó viết, là phải trung thực – tôi không bàn tới những thể loại biến thể của hồi ký, cận hồi ký – không hoa lá cành thêu thùa, tiểu thuyết hóa. Không đặt điều mạ lỵ vu khống kẻ khác để trả thù, hoặc người đó tài năng danh vọng hơn mình. Khách quan. Khiêm tốn. Thành thật. Không lợi dụng hồi ký, di cảo, để lắm lời tự tôn vinh, đánh bóng mình. Không ngụy trá, tìm cách biện hộ, thanh minh, để chối bỏ những sai lầm, thậm chí tội ác, do chính mình gây ra.
Hồi ký, là bản sao của người thật việc thật. Cầm bút, viết cho đúng cuộc đời của chính mình không là một việc dễ dàng. Xấu che, tốt khoe. Cái gì cũng nâng cấp chút ít. Tổng thể, y rằng con nhái hóa ra to đùng con bò vàng.
Khó viết, giá trị của hồi ký là từ nội dung, những sử liệu, dữ kiện, cái thực tế trực tiếp diễn ra; văn chương, chữ nghĩa, kỹ thuật hành văn, chỉ là phần phụ. Tuy nhiên người có văn tài, hồi ký của họ mang một ý nghĩa khác, giá trị khác, rộng tỏa, hấp lực hơn.
Có những hồi ký mang giá trị một tác phẩm văn chương.
Cái khó nữa, là giới hạn của văn tài. Cái bay bổng, lãng đãng thoát ngoài, cái quyến rũ của văn chương nghệ thuật làm cho “rời xa” sự thực, sa đà vào con đường hư cấu – điều tối kỵ của hồi ký. Những thẩm xét, nhận định, thay vì chuẩn xác, lại trở ra mất tính trung thực, thuần cảm tính, phi khoa học. Biến cái gai đâm chảy máu người hóa ra cái hoa Đỏ hoa Hồng.
Dễ – khó là vậy, nên tôi đã qua hơn ba lần, đúng ra là ba loại, bản thảo hồi ký mà vẫn lưỡng lự. Hãy còn trong vòng “Cần đọc lại”, trước khi công bố.

Phạm Viêm Phương: Vì sao có ba lần lẫn …ba loại?

Cung Tích Biền: Khởi đầu, những năm cuối của thập niên 60 thế kỷ trước, tôi chủ tâm viết một bộ trường thiên; dưới dạng hồi ký tiểu thuyết. Bộ này có tựa đề, Chiến tranh và Quê nhà, đăng trên nhật báo Hòa Bình, phát hành tại Sàigòn. Được đâu hơn trăm kỳ báo, tôi ngưng. Lý do, không thể viết bằng văn phong nhật báo.
Năm 1970, lần nữa tôi viết Luống Cải Vàng một tiểu thuyết có tố chất hồi ký, đăng trên tuần báo Đời. Đây là tác phẩm có nhiều độc giả ái mộ. Mãi gần đây, non nửa thế kỷ, nhiều anh em còn nhắc lại, như nhà văn Phùng Ng. Nhà thơ Nguyễn Đức T… Sau khi chấm dứt Luống Cải Vàng, đang viết và sẽ đăng tiếp quyển thứ hai, thì tuần báo này đóng cửa.
Sau 1975, ngưng bút 12 năm. Năm 1995 thấy mình đã nhiều tuổi, cần phải thực hiện gấp. Ngoài một bản viết trên máy tính, tôi đọc vào máy ghi âm. Lúc uống cà phê, lúc ngồi bóng cây trong vườn, về đêm khi chưa ngủ, tất thảy là đọc máy ghi âm.
Con gái tôi giúp cha, thuê một cô thư ký đánh máy những gì tôi đọc vào máy. Thật là tiện lợi. Đọc một giờ, cô thư ký đánh ra khá nhiều trang. Nhưng một trở ngại không ngờ. Tôi dân Quảng, giọng Quảng thô thiển chính gốc. Cô đánh máy người Nam, khá nhỏ tuổi, chưa kinh nghiệm gì. Ý chừng cô cũng có tài văn chương! Đánh đâu được hơn trăm trang giấy A4, tôi đọc lại thấy sai be bét. Tá hỏa tam tinh. Những phát âm giọng Quảng Nam, như “bô gộ, tồ lô”cô vẫn đánh máy nguyên xi, không hiểu ra là “bao gạo, tào lao”. Cô lại có cái thói quen thêm chữ, cô bảo là cho êm xuôi và đủ nghĩa. Tôi đọc “Chiều vàng”, cô đánh máy là “Những buổi chiều vàng” “lá rơi” thành ra “lá rụng rơi xuống đất”.
Nhà văn, có khi viết một trang truyện, nhanh hơn ngồi chỉnh sửa, cũng một trang ấy. Công trình thu âm đành bỏ, Hiện nay tôi còn lưu phần ghi âm trong máy.

Phạm Viêm Phương: Ông đã đọc và nghĩ gì về các di cảo, hồi ký của các tác giả trong nước?

Cung Tích Biền: Tôi đọc khá nhiều, nhưng không có ý kiến gì cả. Hồi ký, di cảo của họ đã là sách, là của-công-chúng rồi. Việc thẩm định hay-dở, yêu-ghét, đúng-sai, đó là việc của công chúng, đời nay lẫn đời sau.
Tuy nhiên tôi hiểu, bất luận là ai, ở phía thắng hoặc bại, muốn khen chê, nên hãy đọc tận mắt cái chữ, trang sách, thì sự khen chê nó trung thực hơn.

Phạm Viêm Phương: Qua nhiều tác phẩm, cả ngắn lẫn dài, tôi thấy ông thay đổi nhiều kỹ thuật và bút pháp. Xin hỏi ông, vì nguyên nhân nào khiến ông thay đổi?

Cung Tích Biền: Nguyên nhân đầu tiên, là thời gian cầm bút của tôi quá dài – trước 1975, sau 1975, hôm nay tại hải ngoại – khá tùy thuộc vào mỗi cấp độ thời cuộc. Thời cuộc này luôn biến động biến chuyển chóng mặt. Nhịp bước của đời sống, và nhu cầu của người đọc luôn phải khác. “Muốn ứng đáp đúng cái nhịp điệu, cái hơi thở bình sinh, cần tới cái nơi nó-phải-tới, thì văn chương của chính mình phải chuyển hóa.”
Chuyển hóa, là luôn phải gạn lọc để từ bỏ cái cũ, và nhạy bén trong việc tìm ra và hòa nhập với cái mới. Viết một tác phẩm mới, phải có gì khác lối viết cũ, cả nội dung lẫn hình thức. Anh thấy rõ hành trình sáng tác của tôi khá cách xa và khác biệt nhau, ở mỗi thời kỳ.
Trước 1975, Miền Nam tuy có chiến tranh khói lửa, loạn ly, nhưng nền Cộng Hòa có một chính thể đa nguyên, một hệ thống hành chánh đâu ra đó, luật pháp tương đối minh sáng, một nền văn hóa, giáo dục có mục đích nâng cao dân trí, chấn hưng đạo lý, lấy nhân văn, đạo đức làm người, làm đầu. Trong một chế độ có mọi quyền tự do, trong đó có tự do sáng tác, mọi ngành văn học nghệ thuật âm nhạc phát triển vượt bậc hơn mọi thời đại, đương nhiên là riêng Miền Nam Cộng Hòa. Văn chương của tôi, với bước khởi đầu là phóng khoáng nhưng đơn giản, minh bạch.
Sau tháng Tư 1975 tới hôm nay, thế sự đã khác thời Cộng Hòa một trắng một đen. Trong sự theo đuổi ngày ngày, để tìm diệt sự tự do sáng tác, thủ tiêu chân lý, bao vây tư tưởng, đưa lên giàn hỏa những gì mang tính nhân văn, văn chương tôi cần thiết phải tìm nơi trú ẩn. Đó là sự thay đổi thủ pháp. Là, thay áo cho ngôn ngữ.
Vẫn một lòng trung thành với mục đích mình chọn, là luôn-phải-có-mặt, nên phải tìm cách ngụy trang.
Trước 1975 là tả thực, văn phong giản dị, những căn cốt để trình bày là trực tiếp. Sau 1975, là bước từng bực thềm, phải nhờ vả tới phép ẩn dụ, mã hóa, sang biểu hiện tượng trưng. Nặng tính ngụ ngôn, huyền ảo, biểu niệm siêu hình, qua Bóng, Máu, Mùi, Xác, Xương…
Đời viết của tôi như vở bi hài kịch có ba màn. Màn Cộng Hòa, màn Cộng sản, màn Cờ Hoa. Màn nào tôi cũng phải trên sân khấu, phải tròn vai mình thủ, diễn.
Bây giờ tôi ở Mỹ, đang trên sân khấu màn thứ ba. Một tình trạng bão hòa. Thể thái là tìm một sự quân bình. Chắc chắn bút pháp văn phong, nội dung chung chạ hẳn sẽ khác hơn trước. Có một chút ung dung, một chút tươi thắm.
Ở màn thứ nhất, trước 1975, có tình người rộng lớn, có em mơ mộng, có Mẹ rộng lòng. Ở màn thứ hai, sau 1975, trên bàn viết là dao búa, mặt nạ chống hơi độc, là cái bình độc dược để tự xử. Nay màn Kết, lúc có thể cắm một cành hoa trên bàn viết. Ám ảnh dần phai màu. Gió Đông phương bây giờ, là kỷ niệm, gợi nhớ, làm nền cho suy tưởng.
Mỗi lịch sử can qua, mỗi đổi thay môi trường sống, cũng là mỗi nguyên nhân để văn chương đổi khác.

Phạm Viêm Phương: Đó là nguyên nhân thay đổi của riêng ông. Mong ông nói rộng hơn, có tính tổng quát?

Cung Tích Biền: Nguyên nhân chung, là phải đuổi theo nhịp tiến hóa. Thay đổi, cải tiến, làm mới, tái nghiệm, tất thảy đều là tiêu chí, nội hàm, của sự tiến bộ, một thể hiện sự tồn tại và sức sống mạnh mẽ của chính đời sống ấy, ngay đó.
Có một chỗ khác nhau giữa văn chương và khoa học. Một bên luôn làm mới sản phẩm của mình sao cho càng ngày càng đơn giản, gọn nhẹ, tiện và đa dụng. Một bên, sự thay đổi, của ngay một nhà văn, có khi từ câu ngắn, giản đơn, tả chân rõ nghĩa, trở ra trùng điệp câu chữ; nghĩa từ đa tầng, thủ pháp biểu trưng, ẩn dụ, huyền ảo, siêu hình.
Một nguyên nhân trọng yếu khác là vì nhu cầu thưởng ngoạn của người đọc. Họ luôn cần cái lạ, cái mới. Đòi hỏi những đáp ứng hiện tình. Đối với người đọc, không kể các loại sách ở những lĩnh vực khác, một tác phẩm văn chương, qua thử thách thời gian, nó không thể biến ra một giá trị đồ cổ. Một cuốn tiểu thuyết, một tập truyện ngắn, muốn tồn tại nó phải có sức sống, nghĩa phải đáp ứng nhu-cầu-đọc của từng thế hệ.
Những vật hữu dụng ngày ngày từ đời trăm năm cũ, ngày nay không còn hữu/hiện dụng, một ít có thể biến ra, trở thành món hàng mỹ thuật, mang giá trị đồ cổ. Với một tác phẩm văn chương, ta sẽ không có cái thú nhìn ngắm, thưởng ngoạn những giá trị mỹ thuật, rất đời đời, như khi đứng trước cái bình sứ thời Tống, cái bình trà đời nhà Thanh, hàng nội phủ, cái hoàng bào của một vì vua.
Nhìn một cái bình cổ, người ta không đòi hỏi, không cần biết trong ruột nó có gì. Chẳng ai cầm một quyển tiểu thuyết một tập truyện, dù được lưu trong thư viện với danh nghĩa một quyển sách xưa, mà không lưu tâm tới cái ruột của nó.
Nay, ta đọc lại truyện Kiều, không phải bằng cái nhục nhãn, cái tâm thế lặng yên, là xem món đồ cổ, một vật dụng chỉ để nhìn ngắm, và nhiệm vụ cần phải bảo tồn. Những gì của chữ nghĩa Nguyễn Du nhiều trăm năm trước, hôm nay nó vẫn “còn sống nhăn”, vì nó đang là cái gương soi thời thế, bản ghi nhớ cần thiết về bao quát cuộc sống, thân phận mỗi con người, chúng ta hằng sống.
Nguyên nhân này bắt buộc người cầm bút phải hiểu rằng “đổi mới” không chỉ ở kỹ thuật dựng truyện, bút pháp, mà chính là phần ý tưởng, tư tưởng.
Người thợ mộc làm ra sản phẩm từ gỗ, người thợ gốm làm ra cái chén cái tô từ đất nung, nhà văn mần ra sản phẩm từ cái chữ, con chữ. “Con”, có thể vì nó “biết nói” chăng! Đời xưa nói với đời nay, qua chữ. Cha chết rồi, con mở di chúc cha để lại, xem Cha của mình đã “Nói” những gì.

Phạm Viêm Phương: Đó là nguyên nhân. Ông có thể nói thêm về điều kiện nào, và phương pháp nào để ông luôn thay đổi thành công. Những câu trả lời của ông, chúng tôi xem như một món quà kinh nghiệm cho những cây bút trẻ hơn không?

Cung Tích Biền: Phương pháp ư? Có hành trình, tất sẽ có thích-ứng-hành-trình.
Nếu tình nguyện cho Cái-Viết, cứ viết, sẽ đẻ cái phương pháp.
Muốn vào đường cách mạng, thề bỏ mạng cũng cách cái mạng! Mần đi, sẽ có sách-lược-hành-động.
Chẳng hạn, trước khi viết một truyện ngắn, tác giả cũng rất mơ hồ về “Cái mình sẽ viết ra”. Khởi đầu, chỉ một ý niệm, một trực giác, rằng, Sẽ-viết-về. Tỉ như chị Hai, một buổi sáng bất ngờ tưng tưng,“Mình có bầu rồi”. Hẳn nhiên, nhưng, “Con trai hay gái? Chửa biết!”
Cứ ngồi vào bàn mà viết, như vác dao vô rừng. Núi lạ, rừng hiểm. Phạt cây đạp cỏ mà đi. Từ đó thấy thêm ra trong rừng sâu có hươu nai thác nước suối trong. Thấy suối trong ngồi rửa mặt nhìn lung lay bóng mình trong nước. Nghe gió thấy nắng rừng. Gió nắng này nghe ra, khác gió đồng nội. Gió kia thổi qua thoáng đãng của đồng cỏ, bờ lúa. Gió này của sầm uất khí thiêng.
Ngành nghề nào cũng có phần kỹ thuật.
Trong văn chương, nói ra cái thủ pháp, cách dựng truyện, cấu trúc, bố cục, xử dụng từ ngữ, là bàn tới cách viết văn rồi.
Nên đọc những nhà văn lớn, không phải ròng bắt chước, đạo văn, mà rút ra ít nhiều bài học. Họ cực dị biệt về mọi mặt, tuy cùng một nền văn học. Lev Tolostoy với F. Dostoyvsky [Nga]; E. Hemingway và W. Faulkner [Mỹ]; Marcel Proust với Saint-Exupéry [Pháp]. Ta sẽ thấy ra chỗ đồng đẳng, cái giá trị thượng thừa của thế giới chữ nghĩa. Một bên văn chương đơn thuần, ngắn gọn, kiệm chữ, một bên đa ngôn, rừng thẳm, nhưng mục đích cùng là đưa người đọc tới chỗ ân hưởng được hoa thơm cỏ lạ, những tư tưởng vàng ngọc.
Nhìn qua người họa sĩ, cách dụng màu, có nóng, có lạnh, màu chủ đạo, trọng tâm. Quan sát ở nhà điêu khắc, phác thảo là tạo lập hình tượng tổng quan, tới đường nét nhỏ/vặt khi phúc thảo. Những nhà sáng tạo bậc nhất thường lưu tâm tới những nét nhỏ, khi nó mang tính đặc trưng, tiêu điểm, đi tới chỗ vi tế của mô tả. Viết cái truyện như xây một tòa lầu.
Chữ nghĩa trong một chương/ đoạn/ câu văn, có loại chữ là sắt làm cốt vững chãi cho xi măng, có loại chữ gạch ngói, vôi, gỗ; màu nóng màu lạnh như trong trong hội họa; như phông màn, đèn màu, vai chính vai phụ trên sâu khấu.
Mỗi nhân vật truyện là mỗi đứa con đẻ của nhà sáng tác.
Phương pháp, là tài sắp xếp chữ, câu chữ, tương hòa cấu trúc, bố cục ở mỗi thể tài, thể loại nơi nhà văn.
Bút pháp truyện ngắn rất khác biệt với truyện dài — tiểu thuyết. Bên này là gỏi cuốn ăn từng cái. Bên kia là một cái lẩu, cần thập cẩm, một tập hợp “đa nguyên”, hào phóng bung vãi, mở rộng, cho một cần thiết đại thể.
Vì phương pháp dựng truyện, có khi tôi phải cắt đoạn này chuyển sang chỗ khác. Không nên tiếc của. Có khi phải loại bỏ vài ba trăm chữ đã viết ra hoàn chỉnh. Trong văn chương, không nói bao đồng, phô bày kiến thức, không ra công dạy dỗ ai.
Viết, phải cô đọng, kiệm chữ, chôn giấu phần ý/tư tưởng. Nên dành sự suy nghĩ, chiêm nghiệm, sáng tạo, cho độc giả.
Có một “bọn chữ” rất cần thiết cho các thể văn chính biện, nghị luận, văn báo chí… nhưng chúng là giặc, bọn phá hoại văn chương, người sáng tác nên tránh xa. Đó là bọn “tuy nhiên, tuy vậy, thế là, bởi vậy, đương nhiên, thật ra, nhưng là, thì là, chính vì vậy cho nên, tức thì, trái lại, do vậy, tuy thế, tóm lại, bởi vì…” Lũ đó phần nào làm cho khô cứng, hỏng văn chương.
Minh biện trong văn chương là một thơ mộng, thả lỏng. Vì, chính bản thân nó, một tảc phẩm, là giả dụ, hư cấu.
Để kết thúc câu trả lời, tôi dùng cái phép “ba phải”, rằng nói cho cùng, chẳng phương pháp nào hơn cái… “phi phương pháp”.
Nhà văn khi vào ghế ngồi, hắn là nạn nhân của một vô tình thúc đẩy, sẽ tự “diễn biến”, theo cái xu hướng mới, có khi từ trực giác sai bảo.
Chẳng nên gồng mình quá. Trước tiên, phải có tự do với chính mình. Nên thả hồn đi. Phải nhẹ nhõm, thư thái, để bay bổng.


http://vanviet.info/gap-go-va-tro-chuyen/phong-van-nh-van-cung-tch-bien-ky-3/
19 Tháng Bảy, 2020

KỲ III
“Trên hành trình sáng tạo, nhà văn không chỉ thấy chiếc bóng của những thực thể hữu hình, sản phẩm của ánh sáng, mà là cả chiếc bóng vô hình, linh hồn của vạn vật”.

Phạm Viêm Phương: Sau biến cố 1975, phần lớn nhà văn đã thành danh thời Cộng Hòa ở lại trong nước đã bỏ bút. Riêng ông cầm bút trở lại, sức viết lại sung mãn hơn xưa. Xin ông cho biết vì lý do gì?

Cung Tích Biền: Bất cứ vì lý do gì, một nhà văn khi còn sức viết mạnh mẽ, mà không thể viết được nữa là một bất hạnh. Khi “Không còn được viết nữa”, vì những lý do áp bức, cường quyền, vì chữ-nghĩa-bị-gông-cùm, ta phải cố mà thoát khỏi cái bất hạnh ấy.
Trong hoàn cảnh một Việt Nam Hôm nay, một nhà văn khi còn sức viết mà không được viết, chỉ là bất hạnh thứ nhất. Nếu anh buông xuôi, chữ nghĩa anh sẽ chết, anh đành phải sống, trong thảm cảnh chết dần. Nếu anh viết tiếp với lòng trung thành, nhân văn, với cái gan nói ra sự thật, bất hạnh sẽ được nhân đôi. Đó là sự trừng trị từ phía nhà đương quyền.
Anh bảo rằng ngòi bút tôi sung mãn, sâu sắc, về sau?
Chính một giai đoạn lịch sử cuồng nghịch, xã hội con người dần biến ra một nhung nhúc tử thi, xú uế tối tăm, chính đó, đã tạo ra cho mỗi con người một sức bật mạnh mẽ để thoát ly.
Mỗi thoát ly một tính cách biểu hiện. Có người dương khẩu hiệu, cầm đao kiếm. Tôi là nhà văn, tôi trút vào chữ nghĩa. Chữ nghĩa, cũng là một loại thuốc nhuộm màu cho tâm cảm, tâm thức con người.

Phạm Viêm Phương: Nhưng vì sao ông cầm bút trở lại vào năm 1987 mà không là sớm hơn hay muộn hơn?

Cung Tích Biền: Lý do trực tiếp nhất là do/từ, một “Hy vọng về một tương lai chính trị, cho một Việt Nam không còn bị độc đảng toàn trị”. Từ những năm giữa thập niên 1980, những biến chuyển chính trị và xã hội lớn lao, từ nội bộ các nước Đông Âu và Đế chế Sô Viết, đã tỏ rõ là thời kỳ mùi chín để tự kết liễu. Các chế độ Xã hội Chủ nghĩa, sau đó nối tiếp nhau tan rã. Thể chế đa nguyên đã hình thành tại các nước này.
Lúc bấy giờ, dân chúng Việt Nam rất mực mong chờ một sự đổi đời. Nhưng những ngày “Mới” không hề tới, như ý nguyện của muôn người.
Trong cái ánh sáng hắt hiu của mong chờ, trong ngỡ ngàng của hy vọng dần tan, như một phục sinh từ lòng một chiếc áo quan, tôi cảm thấy mình “Có thể sống lại”. Một nhà văn, gọi rằng hắn ta còn sống, đang sống, khi hắn ta còn viết.
Việc cấp thiết là cầm bút trở lại, sau 12 năm gác bút. Được viết như được thở.
Truyện đầu tiên [1987] là Dị Mộng. Cuộc tái sinh này, là, Một Trở Lại ngậm ngùi. Một Lên Đường, vẫn trong sương mù.
Nhân vật truyện, Trần Khương Bật, một con người đang tuổi trung niên, đã chết, đã được tẩm liệm hẳn hoi trong áo quan đậy nắp. Nhưng Bật bỗng sống lại. Một cuộc đời khác. Một linh hồn tái sinh, một bộ não được tái khởi động, nhưng từ một hiện thực còn đóng kín bóng tối, Khương Bật đành phải sống trong kiếp người giả câm giả điếc. Khi cần thiết phải Nói-Ra, để thể hiện một quyền tối thiểu của con người, là hộc máu. Khương Bật chết vào một đêm thiêng liêng giao thừa, mồm ngậm máu oan, khi khói hương được con cháu thắp sáng trên bàn thờ tổ tiên.

Phạm Viêm Phương: Như thế, khá nhiều tác phẩm của ông hình thành từ những dấu ấn thời cuộc, ông nghĩ gì về mối liên hệ giữa văn chương và chính trị?

Cung Tích Biền: Theo cái nghĩa rộng của từ chính trị, thì văn chương không bao giờ thoát khỏi nó; hiện thực chính trị, hậu quả chính trị, ám ảnh chính trị; thêm/ và, món quà tiền bạc, quan tước, mà “người chính trị” ân thưởng cho “kẻ văn chương”.
Nhà văn luôn phải thể hiện chính kiến của mình, qua tác phẩm. Giữ cho chữ nghĩa, hình thức thẩm mỹ lẫn nội dung còn là “dung nhan” văn chương; không bị chính trị “dắt mũi”, sai khiến, quả là rất khó khăn. Làm sao để một truyện ngắn truyện dài không là một bài xã luận chính trị, một thông/báo cáo, một phiếu bầu ủng hộ nhà đương quyền, toa rập với những điều phi nhân nghĩa, là do thái độ của nhà sáng tác.
Có một chỗ cốt lõi, cũng là một phẩm hạnh và lòng trung thực với những gì đích thực là văn chương, thì nhất thiết, “không thể dùng văn chương của mình làm tay sai, là con tin cho chính trị”.
Chế độ độc đảng, độc quyền, chuyên chế nào cũng xem văn chương là nàng xinh đẹp, cái đối tượng để dụ dỗ, cưỡng hiếp. Nàng là của mình, phải phục vụ cho mình.
Ngã rẽ cuộc đời là rất khó khăn đối với một nhà văn, để, “Anh đường anh, tôi đường tôi”.
Chỗ này không phải nói suông mà được. Hãy xem một nhà văn, họ đã sống như thế nào, và đã viết những gì, thì ta mới cho ra một câu trả lời thỏa đáng.

Phạm Viêm Phương: Vậy ông làm thế nào để vượt qua “số phận” hiểm nghèo này của văn chương?

Cung Tích Biền: Phải răn đe với chính mình. Phải mang chữ nghĩa của mình “vượt biên” ra khỏi chốn nơi cưỡng bức tư tưởng, bôi nhọ tự do. Phải giữ cái dung nhan Nàng-xinh-đẹp, là chính Nàng. Phải luôn hiểu “Mình chỉ đến với văn chương, văn chương là cứu cánh”.
Xã hội chúng ta qua bao thập kỷ, bao cuộc biến thời cuộc, luôn bị chính trị, hay ít ra ảnh hưởng chính trị áp đảo. Bất cứ một sinh hoạt xã hội nào cũng dưới áp lực chính trị; được/bị chính trị hóa. Người cầm bút phải luôn nhật tụng, “Dù viết bất cứ những gì cũng phải trong cung cách, bản thân văn chương”.
Cuộc tách thoát là rất khó khăn.
Tôi viết “Ngoại ô Dĩ An và Linh hồn Tôi”, tháng 11 năm 1965, là lúc những con đường Việt Nam đã có dấu xích xe tăng Mỹ. Lúc này, tôi là một sĩ quan cấp úy thuộc Sư đoàn 21 bộ binh, Bộ Tư lệnh đóng tại thành phố Bạc Liêu.
Đã qua thời kỳ những người Mỹ ít ỏi có mặt tại Miền Nam Việt Nam trong vai trò cố vấn, tháng 3 năm 1965, một binh đoàn tác chiến của quân đội Mỹ đã đổ bộ lên cảng Non Nước, Đà Nẵng, để tham dự trực tiếp vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Từ đó, chiến trường mở rộng, đồn lũy to lớn của quân đội Mỹ có khắp nơi ở Miền Nam. Trong núi rừng, giữa phố thị, trong các lũy tre làng Việt Nam, từ đây, đã có những biển người của quân đội Miền Bắc, và những thi hài của người lính viễn chinh Mỹ. Và, trên xứ sở thân yêu, đã có những cô gái Việt Nam – như nàng Dĩ An – mang thân phận không may, vì thảm cảnh điêu tàn từ chiến tranh đã mở rộng cửa.
Năm 1968 tôi viết “Bạch Hóa”, năm cuộc nội chiến đã lên đỉnh điểm, lộ rõ mặt “huyết nhục tương tàn”. Cán bộ Sáu Vu nhân danh cách mạng một đêm khuya về tụ họp dân chúng chứng kiến việc mình chặt đầu cha của mình, vì ông ta là một chủ tịch xã dưới chế độ Cộng hòa.
Cùng lúc, “Tết Mậu thân”, cũng những người con thân yêu của Huế ấy, trong những ngày thiêng liêng thờ cúng ông bà, ngày vui xuân chí mạng, họ đã lập tòa án nhân dân để giết người lương thiện, và tạo bao nhiêu nấm mồ chôn sống tập thể.
Anh thấy đó, “Viết về nó”, nói rõ, vạch rõ sự kiện, đứng giữa máu xương lửa đạn, sự thù hằn, mưu oan hiểm độc, thái độ người cầm bút phải trái rất phân minh, nhưng phải cố gắng giữ sao cho “cái chữ” ngoài hình dung, trong xác cốt, phải là văn chương.

Phạm Viên Phương: Ông đã có hơn nửa thế kỷ cầm bút và vẫn giữ được sức viết khi đã ngoài tuổi tám mươi. Tôi nghĩ rằng điều đó chắc hẳn dựa trên một nỗ lực tìm học và trầm tư không ngừng (ta tạm gác bỏ yếu tố sức khỏe). Ông có thể cho bạn đọc và thế hệ trẻ biết nên làm gì, tìm đọc những lãnh vực gì, rèn luyện gì để giữ bút lực sung mãn như thế không?

Cung Tích Biền: Đúng là phải nỗ lực tìm học, hàm dưỡng, trầm tư không ngừng, miệt mài làm việc. Hành trình của một nhà văn là kẻ-đan-lưới-chữ, khác với một thi sĩ. Nhà thơ có tác phẩm để đòi, đôi khi, chỉ qua vài phút nhập thần, một thoáng hiển linh câu chữ biến ra lời kinh.
Cuộc sống của tôi dai dẳng, khá phóng khoáng, lưu linh bạt mạng, trên cái nền chung hào hoa, hòa mình, gìn giữ cái tình thân với mọi người. Về đời văn, những gì tôi tự thân thực hiện và cố gắng gìn giữ, đương nhiên là trong chừng mực tôi có thể, khi còn sống còn viết, là những điều dưới đây.
1- Khiêm cung – một nghĩa nới rộng của khiêm tốn. Để tránh sự tự mãn và thậm xưng. Hiểu rằng, luôn luôn, lúc nào, mình cũng chỉ là một đóng góp nhỏ nhoi, chưa có thành tựu gì lớn lao. Lịch sử văn học, thế giới cổ kim của tạo tác trong văn chương nghệ thuật, là một núi rừng vĩnh cửu bao la, liên tục thay đổi và, luôn tiếp nối. Mỗi cây mỗi chiếc bóng, một vị trí nhỏ/ riêng. Mỗi riêng/nhỏ, may mắn là một đóng góp cho toàn cảnh, mà thôi.
Khiêm cung để mở rộng cõi lòng. Không khích bác, chê bai ai, không bầy đàn để áo thụng vái nhau. Luôn nhìn lại những sai trái của mình để chỉnh sửa, không lưu tâm tới những dư luận tin đồn ác ý, đặt điều, vu oan.
Khiêm cung là một thứ thuốc bồi bổ sức khỏe thượng hạng, không phải mất sức lên lớp ai, chẳng cãi cọ cùng ai.
2- Thành thật. Muốn nỗ lực tìm học, trước tiên phải thành tâm nhận ra sở học của mình còn thiếu/ kém. Xem đó là một “điểm chết” đầu tiên, cần phải có mục đích dài hạn theo đuổi, để thoát tối tăm, tăng dần sở kiến.
Khiêm tốn và thành thật, là yếu tố dễ dàng tiếp cận cái mới, những trào lưu mới, luôn biết tôn trọng những phát biểu của người khác, thậm chí những phát biểu ấy trái ngược với quan điểm của mình.
Khiêm tốn và thành thật, kết hợp với tài năng và sự thông tuệ, sẽ sinh ra sự bao dung tự tại. Sự minh sáng của tự tại sẽ tỏa ra những điều lớn lao lẫn tế vi, trong cuộc sống.
Trên hành trình sáng tạo, nhà văn không chỉ thấy chiếc bóng của những thực thể hữu hình, sản phẩm của ánh sáng, mà là cả chiếc bóng vô hình, linh hồn của vạn vật.
3- Hiểu ra sự ràng buộc. Nghề văn khác biệt rất nhiều những ngành nghề khác. Vị bác sĩ chữa bá bịnh. Nhà văn nhức đầu thì bác sĩ cứu chữa. Không có thuốc bổ não, thuốc tăng sức tưởng tượng, mơ mộng nào để viết văn hay.
Khó thể tin rằng có học vị tiến sĩ văn chương, thật đáng trân trọng, là đương nhiên trở thành một nhà văn. Trường Đại học Văn khoa bao thế hệ, nhiều nghìn sinh viên, đã sản sinh ra bao nhiêu nhà văn, qua tác phẩm, đúng với danh nghĩa.
Trường dạy Viết văn, hữu ích thật đấy, ở chỗ dạy người làm văn, làm con đều được buộc vào đầu một sợi dây. Từng ấy tầng cao, tung bay “phấn khởi” lắm, nhưng thế giới rộng trải của chính nó, là chỉ cố định, ở đầu một sợi dây. Dạy viết văn? là nơi chuyên nghiệp đẽo gọt, bào mòn trơn tru góc cạnh cá tính, nơi trợ lực để thủ tiêu tài hoa, gây thương tật cho những Đích-thị-văn-tài.
Hiểu ra những ràng buộc, những chỉ định phương hại tới dòng chảy tư/ý tưởng khi sáng tác, người cầm bút mới chấp nhận, dấn mình vào cuộc vượt thoát. Dứt bỏ những chướng ngại ma cỏ, những thường tình ươn thiu; để hướng tới những viễn kiến, tiên tri, dự phóng, vọng tưởng, hư cấu; và mạnh dạng, phóng khoáng cho ngòi bút trôi chảy.
4- Cái Học. Nói vậy, không phải nhà văn là không cần đi học, và Học.
Không thủ đắc được một nền tảng học thuật, triết học, thi ca, cả hội họa, âm nhạc nghệ thuật, người cầm bút, ngoài một ít năng khiếu trời cho, chỉ còn là cạn cợt, nghèo nàn, thiếu hơi. Chung chung là sống thêm những ngày trí não teo cơ.
Được một hạt giống tốt, chôn xuống đất, đương nhiên nó tự nảy mầm. Phải tận tâm xới đất, vào phân, tưới nước, cây mới sum sê dài ngày, bền vững, cho trái ngọt, quả lành. Nhà văn, kẻ luôn bức thoát khỏi vị trị trí cũ, khắc khoải chờ một lột xác, phục dựng.
Ngoài những lời dạy dỗ bao la chi tào của các triết gia, thánh hiền, nhà cầm bút muốn viết /tả cái sự đời cho rõ/tỏ, cho lung linh tận cùng cũng phải biết đến cả những cái nhỏ nhoi, vụn vặt. Chính cái vô tình của thiên nhiên, cái đương nhiên của tự nhiên, cái hành động thuần bản năng phi ý thức, do hằng đời đời đã tự có trong muôn loài, lại là cái “nết” biểu trưng chung cho muôn đời.
Hãy nhìn miệt mài cái cách con chim làm tổ, không đôi tay chúng dùng cái mỏ điệu đàng; xem cách con diều lao vút từ tầng không xuống mặt đất chớp nhoáng “đớp” một con gà con, và, sự tận hiến của gà mẹ bung hai cánh nhỏ bé bảo vệ đàn gà con. Cái an lòng một niềm vui tổ ấm, sự cạnh tranh, chiếm đoạt giữa các loài trong trời đất, và sự tự vệ để sinh tồn. Những hoạt cảnh ấy, ngoài tác động của thị giác, với nhà văn, hãy còn một biến thể, những cảm nghiệm trừu tượng, hằng lung linh lưu dấu trong tâm thức, tâm linh. Nó sẽ biến dạng, là ánh sáng rộng tỏa, khi kể lại sự vụ, trong cái truyện, trên trang sách.
Với người cầm bút, việc đọc sách không là một giải trí, thoát sầu, tìm vui. Đọc/ học/ ghi nhận từ sách vở, từ bầu trời trăng sao, từ mặt đất con thác đổ con kiến tha mồi mùa mưa lũ. Nhất nhất đều cho ta bài học, đều dạy ta, cho ta chất dinh dưỡng, nuôi sống ngòi bút.
Với chữ nghĩa, y chừng là một cái Đạo đối với người cầm bút. Một con đường khó khăn, phải năng tu tâm dưỡng trí; “cố cùng” mới đạt thành. Các Nho sĩ thời xưa, phải tắm rửa sạch sẽ, khăn đóng áo dài, mới ngồi trước án thư, mở cái chữ của thánh hiền.
5- Cái Đi. Cái Đi chính là cái sống. Bước đi càng dặm dài sự hiểu biết càng mở rộng. “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”, “Đi ra cho biết đó đây, ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”, người xưa từng dạy. Nhà văn cần từng trải, qua không gian lẫn thời gian. Thời gian, để có đường trường sáng tác. Không gian để bản thân văn chương luôn thay áo mới.
Một người ở mãi trong làng trong nước, đương nhiên bằng lòng với sự thân thiện, hòa mình, thỏa mãn với tụng ca, “Chỉ chốn quê hương là đẹp hơn cả”. Nhưng ai đó “lỡ” đi ra ngoài nước một lần mới thấy mình cần đi đó đây.
Trái đất rộng tênh, biển chữ cổ kim vô bờ, đọc được chừng nào, thì đọc. Có điều kiện, tùy nghi túi tiền, du lịch đến được chỗ nào thì đến. Ít nhiều cũng là cái “có thêm”, là bề dày từng trải.
Người dân ở những nước văn minh tiên tiến, người ta quanh năm làm việc hết mình, dành dụm chút tiền bạc, để tới mùa nghỉ dài ngày, là a-lô, ba-lô lên đường du lịch.
Đi ra ngoài, nhìn ngắm nhiều, giựt mình nhiều món lạ, cảnh đẹp, ông da trắng bà da đen, bác lạc đà, cô chuột túi, ngữ ấy phần nào nó triệt tiêu cái tánh nhỏ nhoi, thủ cựu, ta đây là nhứt.

Phạm Viêm Phương: Xin được cắt ngang câu trả lời của ông. Hôm nay, đa phần bà con cho rằng việc đọc sách để tìm kiến thức là phí phạm thời gian. Đã có ông Gu-Gồ, thầy dạy bách khoa.

Cung Tích Biền: Đúng là như vậy. “Ông” ấy là tay ký lục tận tụy, vô tư và rộng lòng, luôn sẵn lòng ban phát thông tin cho bất cứ ai cần. Nhưng muốn có một kiến thức sâu rộng ta phải cần một đòi hỏi khác, khắt khe hơn. Phải cần nhiều chiều hướng thông tin soi rọi, sâu rộng, ta mới có cái nhìn khách quan và cho ra một kết luận [tương đối] chính xác. Nó không đơn giản như việc tìm công thức để nấu một tô bún bò.
Hãy cho một thí dụ, đòi hỏi sự nỗ lực tìm kiếm và giàu trầm tư. Văn bản một lịch sử nào cũng có “kể lể”, “kể công”. Một của triều đại, của thể chế đương quyền. Và, một kia, là của thực thể đã tiêu vong, trước đó.
Nhà đương quyền luôn chép sử theo những gì mình cho là đáng/nên ghi chép. Tham vọng dương danh của kẻ đương ngôi, là luôn hạ nhục cái thể chế mình đã hạ gục. Thể thái ấy luôn bày rõ một sự đồi bại, thiếu công minh, bỏ đi sự thật, tạo ra sự bịa đặt, hỏa thiêu, an táng những gì là đáng tôn vinh của bên chiến bại. Kết quả, đã lái công-việc-sử-ký sang “Con đường một chiều”.
Bản “tự vinh danh” này của nhà đương quyền, đã đươc công khai dạy cho công chúng, được đưa vào sách giáo khoa học đường, cưỡng chiếm niềm tin của một thời; tất thảy đó, là hàng giả mạo.
Một bản kia, là viết vì sự thật, của máu, trong hàm oan. Bản ấy, có thể đang còn ẩn kín đâu đó, đó mới là Sự-thật-lịch-sử dành cho mai sau.
Nhà văn qua tác phẩm của mình, trong chừng mực khiêm tốn, ít nhiều đóng góp, là một người có trách nhiệm ghi lại, thanh minh cho lịch sử. Cần một cẩn trọng, nghiêm túc, không vì những thông tin son phấn, đánh lừa của những kẻ đã quên đi các công lao của tiền nhân, xem thường danh dự của giống nói.
Tôi xin dài dòng thêm, vì câu hỏi, “Ông đã có hơn nửa thế kỷ cầm bút và vẫn giữ được sức viết khi đã ngoài tuổi tám mươi. Tôi nghĩ rằng điều đó chắc hẳn dựa trên một nỗ lực tìm học và trầm tư không ngừng (ta tạm gác bỏ yếu tố sức khỏe). Ông có thể cho bạn đọc và thế hệ trẻ biết nên làm gì, tìm đọc những lãnh vực gì, rèn luyện gì để giữ bút lực sung mãn như thế không?
6- Sự hàm dưỡng. Con ong làm tổ, con nhện giăng tơ, là ở chỗ ra công nhặt nhạnh, từ từ gom tụ, tuần tự bày biện. Sự hàm dưỡng của một nhà văn là một công năng quan trọng. Không tùy hứng mà phải khổ công miệt mài, mới nên tơ, thành mật.
Tiếp nhận, giữ lại, tô bồi những dưỡng chất cho đường dài sử dụng. Hàm dưỡng tài năng, tri thức, sở học, kinh nghiệm, trên nữa là tâm thức tâm linh. Một cuộc tu tập man mác biển rộng sông dài, luôn phải thường trực, linh động.
7- Ngoại ngữ. Nhà văn cần biết ngoại ngữ là điều cấp thiết. Các nhà văn, học giả tổ tiên của chúng ta, vào thời Gia Định báo [Trương Vĩnh Ký], đến Đông Dương tạp chí [Nguyễn Văn Vĩnh], Nam Phong tạp chí [Phạm Quỳnh] đến Tự Lực văn đoàn [Nhất Linh]… hầu hết các vị đã thông tạo chữ Hán và tiếng Pháp.
Nguyễn Bá Trác [1881-1945] viết thiên ký sự Hạn mạn du ký, nguyên là bằng chữ Hán, về sau chính ông dịch ra tiếng Việt – đăng trên Nam Phong tạp chí từ số 38 đến số 43 vào năm 1920. Cung Giũ Nguyên [1909-2008]  viết tiểu thuyết bằng tiếng Pháp. Và, còn rất nhiều trường hợp khác nữa.
Là nhà văn, tùy nghi, nhưng theo tôi, phải thông hiểu tiếng Anh và tiếng Pháp. Nói-nghe-đọc, không giỏi hai cái trước, thì cũng phải thông thạo cái sau, Đọc được.
Anh ngữ, để giao tiếp toàn cầu. Pháp ngữ, vì chúng ta có quan hệ nhiều mặt với người Pháp trong non thế kỷ lệ thuộc; muốn thông hiểu sâu rộng quá khứ qua tư/tài liệu, cần hiểu biết tiếng Pháp để tiện tra cứu.Thêm nữa, nguồn sách trước nay, được xuất bản toàn cầu, đa phần là tiếng Anh, tiếng Pháp.
Học thêm chữ Hán cũng là điều hữu dụng, vì tiền nhân chúng ta, ngoài chữ Nôm, có trên một nghìn năm dùng chữ Hán trong mọi lĩnh vực chính thống phải cần tới Hán tự.
Một lý do nữa, lâu nay, những tác phẩm nguyên ngữ rất nhiều, nhưng được dịch ra “Tiếng nước ta” thì quá ít. Việc dịch lại chậm trễ. Những danh phẩm thế giới, người ta đọc đã thời kỳ quá đát, vài mươi năm sau, ta mới thấy được bản dịch. Nếu có chút ngoại ngữ, đọc trực tiếp, trước khi được dịch, sự tiếp cận càng sớm càng tốt.
8- Cần cù lao động, dành thời gian cho nghề nghiệp. Lẽ thường, nghệ sĩ thì phóng khoáng, chơi nhiều, nhậu nhiều, nhảy đầm, đánh đàn, yêu hoa, si tình, lai rai đánh bạc, giao du đó đây tìm bạn tâm giao, lúc hứng thích mới sáng tác.
Tôi không dám bàn, dám khuyên với các “Nhà” khác. Nghề văn như nghề dệt vải, lại cung cách của thời thủ công như các gái làng quê thuở nọ. Dệt từng sợi, gõ từng chữ gian nan. Có khi khuya lơ, viết xong trang chữ, đẩy cửa bước ra ngoài, trăng về sáng mòn mỏi, một mình.
Phải thầm lặng, cần cù, ngày nối đêm mới có “sản phẩm”. Trong thời gian có hứng thú sáng tác, phải tiết kiệm thời gian, phải kiêng cữ, mọi thứ như chị có bầu, tất thảy là vì đứa con đang mang trong bụng; tất thảy là mong đứa con sắp oe oe chào đời là một sinh vật lành mạnh, tinh khôi, không dị tật.
Cho nên, nhà văn phải chịu cái an phận. Anh mừng cho tôi có một đời viết lách bền bỉ trên sáu mươi năm, tới nay tôi vẫn bàn đèn nghiện ngập cái chữ. Anh ạ, cái đó là cách trả nợ. Một mối nợ già đầu chưa trả hết. Quả là trời hành.



Monday, April 13, 2020

Phê bình thi ca và văn học: GS Đỗ Long Vân

THE INTERPRETATIVE ART:

LITERARY CRITIQUE -POSTMODERNISM - STRUCTURALISM, AND OTHER CREATIVE NONFICTION

NÓI VỀ THƠ XUÔI CUẢ NGUYÊN SA:


Nhân Một Kinh Nghiệm Thơ

 ĐỖ LONG VÂN
Tặng LÀNH

   Nhà phê bình
  Đỗ Long Vân
 (1934-1997)
LTS: Đỗ Long Vân là một trí thức du học Pháp, học ở Sorbonne, bạn đồng thời với nhà thơ Nguyên Sa. Dạy Đại Học Văn Khoa một thời gian rồi đi quân dịch với cấp bậc binh nhì. Ông chết sớm ỏ Việt Nam. Đỗ Long Vân là người mà chúng tôi xin gọi là “đấng tài hoa” dù ông yểu mệnh và chỉ đề lại cho đời chừng dăm bài biên khảo đặc sắc. Chỉ cần với “Vô Kỵ giữa chúng ta” ông đã đánh tụt giá được những gì được coi là chính thống, đặt lại vấn đề chính, tà, tà chính, ai hơn ai, ai chính nghĩa hay ngụy quân tử?
Ông viết ít, rất ít. Viết khó. Nhưng viết cái nào ra cái nấy. Đọc bài viết sau đây của ông về thơ Nguyên Sa, người đọc có cảm tưởng ông chịu ảnh hưởng triết gia G. Bachelard trong lối mô tả Hiện tượng luận với La psychanalyse du feu, L'eau et les rêves, La terre et les rêveries du repos... Tân Văn xin đăng lại bài này để tưởng nhớ cả hai đấng tài hoa của văn học Việt Nam.


Cho tôi tìm một chữ mới
Không có trong hai mươi nhăm chữ cái
Để bất đầu tên em.
Nguyên-Sa

A.- Hay là... hay là.

   Nhà thơ Nguyên Sa
(1932-1998)
Tiễn-biệt trong từ-chương là một đề tài cổ điển. Ấy cũng là tên một bài thơ của Nguyên Sa trong những bài dễ thương nhất. Nói nó dễ thương là nói, một cách khác, rằng nó không thật là mới. Mới tuyệt đối thì ai hiểu được mà thương ngay? Nhưng cũng may là màu xanh ấy của đêm, của nước, của chia-ly chẳng có gì đáng cho người ta lạ. Và cả âm-điệu của bài thơ nữa, tuy không theo đúng một luật nào, nghe cũng như một tiếng sáo khuya vọng lại từ một vùng xa xôi của trí nhớ. Ai nghe kỹ tuy nhiên, không thể không nghĩ rằng, sau sự quen tai ấy, có một cái gì trái cựa. Tất cả như đã lỡ rùng mình. Và người ta đột nhiên thấy sự thiếu thực-tính của tất cả. Cái thế-giới người ta tưởng đã thuộc mặt rồi ấy chợt người ta ngờ nó đã mất căn bản. Nó trở nên một thế-giới ma chơi. Và tất cả ẩn và hiện và chập chờn. Tất cả không ngừng chạy ra ngoài tầm một ngôn-ngữ cố đuổi theo chúng mà không xuể. Cho đến cuộc tiễn-biệt ấy tôi cũng không thể nói rằng nó đã thực xảy ra. Hình như có một người ra đi. Nhưng đi đâu và đi bằng gì và đi lúc nào thì tôi không biết. Cũng như tôi không biết người ấy đã đi chưa.

Người về đêm nay hay đêm mai
Người sắp đi chưa hay đi rồi.

Tôi chỉ có thể đặt câu hỏi và nói mò. Nhưng từ cái hay là này sang cái hay là khác, nói thế nào tôi cũng thấy thiếu thực-tính như thế. Mọi sự như bảo nhau chuồn trước ngôn-ngữ. Và sau cùng tôi cũng chẳng biết là tôi đưa người hay tôi đưa tôi. Nghĩa là tôi không biết có còn tôi không nữa. Mà còn gì có thể biết được, khi ngôn-ngữ đánh lừa tôi? Nó nói thế này, nhưng lại bảo rằng thế khác cũng xuôi đề, kết luận, chẳng ai biết thực sự thế nào. Cũng may là còn biết được sự không biết ấy! Rất có thể người đã đi cũng như người, rất có thể, còn ở bên tôi. Nhưng thế có đổi gì đâu? Quan-trọng là dù thế nào tôi cũng không thể tới người? Nghìn dặm cách hai người yêu cũng là chỗ họ gặp nhau. Chúng đầy tình yêu của họ và cho nó nghĩa và tương-lai. Nhưng tôi và người, dù chỉ để gặp nhau trong chỗ xa nhau ấy, cũng không thể. Lý do rất đơn giản là chẳng có gì cách người và tôi và, như thi-sĩ đã nói:

Bức tường vô-hình nên bức tường dầy mênh-mông.

Hóa ra dù có sát mặt nhau chăng nữa, tôi cũng không thể nào nhận ra người. Mà nhận ra người sao được, khi tôi còn không thể nhận ra tôi. Hay nói đúng hơn thì tôi mất tôi là tại tôi đã mất người. Người là môi-giới giữa tôi và tôi. Và giữa tôi và người thì gì lằm môi-giới nếu không là ngôn-ngữ? Nhưng cả bài thơ bảo tôi rằng ngôn-ngữ không nói đúng. Thế là đứt mối giữa tôi và người và thế-giới chung quanh. Cái ngôn-ngữ xưa nối thế giới và người và tôi không tin được nữa - cũng như con người của ngôn-ngữ ấy. Xưa có một con người. Không là anh mà cũng chẳng là tôi. Nó là nơi anh và tôi nhận ra nhau là người. Là cái căn bản tiềm- nhiễm của ngôn-ngữ và của sự sống chung. Nhưng con người ấy như đã chết. Và tôi bỡ ngỡ đi lạc, với một ngôn-ngữ mồ côi - đã mất bảo-đảm - từ cái hay là này sang cái hay là khác, giữa tôi và người và những sự đời. Tiễn-biệt?

Giờ thì tôi biết tại sao bài thơ ấy lại mới và cũ và lý-do của sự nó có mặt trong một tập thơ mang tiếng là “tự-do”. Nó diễn lại cái chết của những yên-trí xưa như cái chết tuy đã xẩy ra cho một người. Tiễn-biệt? Tôi biết là tôi không đưa ai. Tôi đưa con người. À! Cái danh-từ sao mà to thế! Thế tuy nhiên là tất cả. “Cũng một đêm nào như đêm nay, Jessica...” Cũng một đêm nào như đêm nay Bạch Cư-Dị nghe tiếng tỳ-bà vọng và người cung-nữ của Ôn-Như, nghiêng bình phấn mốc, chờ một ông hoàng si không trở lại. Cũng một đêm nào như đêm nay, Kiều, một mình trong đất khách, tiếc đã một lần can một chàng Kim-Trọng quá đa tình. Trên những đồi Điện-Biên-Phủ, cũng một đêm nào như đêm nay, người ta chở người thương binh cuối cùng. Và một ảo-tưởng vội qua đời.

B.- Cuộc khủng-hoảng của ngôn-ngữ trong thơ đương thời.


Lẽ dĩ-nhiên cái chết ấy của con người cũ không là một cái chết có ngày trong lịch. Nó xẩy ra ở đáy lòng của từng người. Có sống nó mới biết nó. Ấy là một biến-cố lang-thang của thời-đại. Và ai cũng có thể, một ngày nào, gặp nó đến với mình để, trong một chớp-nhoáng, thấy tất cả đời mình dựng trên một trá-thuyết. Người thì biết nó đã lâu, cũng như có người vẫn làm như chẳng có sự gì xẩy ra. Ai trước cái chết ấy cũng có một trả lời riêng. Nhưng thế nào thì ngấm-ngầm và một cách cụ-thể cuộc sống của tất cả mà người cũng đã bị nó đổi. Mà làm sao chối được sự có mặt của nó trong cái phần đẹp nhất của từ-chương đương-thời? Cứ đọc Thanh-Tâm-Tuyền, Dương-Nghiễm-Mậu, Nguyễn-Nghiệp-Nhượng, Lý Hoàng Phong... thì đủ biết! Nhưng tác-động của nó lớn nhất trong thơ. Qua thơ là cả ngôn-ngữ, như một thể-thống diễn-tả, đã bị nó nghi-vấn-hóa.

A! người ta tưởng rằng những thi-sĩ chỉ có một việc là viết cho hay để người đọc có thể ngồi yên-hưỏng những câu thơ như những đóa hoa và khen và chê tùy cái thú của mình! Cái hay của người thi-sĩ tuy-nhiên, như của tất cả những nghệ-sĩ khác, không thể có ngoài cái thật. Nhưng nói thật được không là tùy ở ngôn-ngữ. Mà một khi ngôn-ngữ đã bị nghi-ngờ thì “thơ” là chữ đầu-tiên... Cho nên người ta có chê thơ đương-thời không là thơ đi nữa thì những thi-sĩ cũng không lạ. Hơn ai hết họ biết họ không biết thơ là gì. Mà thơ là gì? Tiếc những người thường chê thơ đương-thời không là thơ không biết rằng, câu hỏi ấy, chính cái thơ bị chê không là thơ đã đặt ra và gây nên. Nó là câu hỏi của thơ. Rất có thể - ai biết đâu? Thơ không có. Nhưng thơ đương- thời là một cuộc tìm thơ ở giữa lòng ngôn-ngữ. Nó là thơ cũng như thơ chỉ là thơ đang tìm mình. ít nhất nó cũng không là văn xuôi. Nghĩa là không những nó đã bỏ tất cả những đồ trang-sức, xưa, cho phép gọi là thơ bất cứ một ngôn ngữ có vần nào, mà còn từ-chối cả ngôn ngữ nữa.

Ngôn-ngữ của nó không để nói. Và những chữ chết đứng. Ẩy toàn là những ảnh-tượng. Xưa thơ có ảnh-tượng. Như một của thừa. Chúng là cái thêm vào cho diễn-từ sáng. Không có chúng thì diễn-từ cũng đủ nghĩa. Chúng cụ-thể-hóa nghĩa của diễn-từ. Và thế đẹp hơn. Nhưng diễn-từ vẫn có và nghĩa của sự bị diễn. Ẩy là những sự lạ được ngôn-ngữ hóa ra quen. Người ta đã xếp chúng theo một trật-tự người. Hay nói một cách khác thì chúng đã bị tả-chân. Nghĩa là có một sự-thật duy-nhất chúng. Và sự-thật ấy là môi-giới giữa chúng và người. Nó đặt giữa chúng những tương-quan hiểu được. Làm chúng có liên-tục và diễn-từ trở nên xuôi tai. Ý của thơ đương-thời, trái lại, là trực-diễn chúng. Gọi nó là thơ tả-thực cũng được. Nó bắt đầu trong ý-thức rằng nghĩa của một sự không diễn thực sự ấy. Lấy chữ “trăng” chẳng hạn. Nó đâu chỉ là trăng của trời! Mà còn là trăng của những con thuyền làm duyên trên nước biếc, của những tiếng hát giữa dòng xanh, của những đêm tình không thể hết và của gì nữa? Nghìn bài thơ đã đọc rồi. Nó là sự nên thơ, sự dịu-dàng, sự đau xót. Là tuổi trẻ, là đồng-quê, là cô-độc. Tất cả những sự ấy cho nó một tiếng thì-thầm riêng. Hơn là cái nghĩa đen, những tiếng thì-thầm ấy trong lòng chữ, làm có diễn-từ và người ta hiểu nhau.

Ngôn-ngữ vốn đứt quãng. Nghĩa đen của chữ và tương-quan văn-phạm giữa chúng không đủ tạo một diễn-từ chì có thể có trên nền một thế-giới chung mà chúng tiềm-diễn. Thế-giới chung ấy là nơi người ta gặp nhau trong cuộc sống thường ngày cũng như trong ngôn-ngữ. Nó là mặt trái của cái sự-thật đang môi-giới những chữ để đổi chúng thành diễn-từ và cho chúng một nghĩa người. Thơ đương-thời từ-chối cái nghĩa người ấy để trả lại chữ nghĩa đen của chúng và, qua chúng nguyên-tính của những gì chúng gọi tên. Nghĩa của người không là nghĩa của vật. Ai cũng biết thế và từ lâu. Chưa bao giờ tuy nhiên biết cái ấy lại được sống một cách thảm như thế. Hẳn thế không có nghĩa, như có người tưởng, là giờ người ta thông-minh hơn người xưa. Nhưng xưa cái nghĩa người còn có một con người bảo-đảm. Xưa còn có một con người để ở cái thế-giới chung trong ấy có thể có một nghĩa người. Con người ấy đã chết. Và cái thế giới chung, người ta chợt thấy, không thật là của chung. Trăng chẳng hạn không là trăng cho những người chết trong ngục tối. Nói đến trăng như người ta vẫn nói trở nên cũng ghê- tởm như xử-tử một người nào là nói điêu.

Ấy tuy-nhiên chỉ là cái thí-dụ ngây-thơ nhất. Sự lệch nhau giữa nghĩa người và nghĩa của vật là một chuyện muôn đời. Nhưng cuộc khủng-hoảng đương-thời của ngôn-ngữ không thể hiểu ngoài cuộc khủng-hoảng lớn hơn của xã-hội người ta đang sống. Giờ chưa phải lúc viết lại câu chuyện ấy. Nhưng người ta đã có thể nói rằng, nếu có khủng-hoảng, thì cuộc khủng-hoảng ấy có những giới-hạn sử nhất-định. Và thế nghĩa là nó sẽ bị vượt qua. Trăng của người không là trăng của trời, lẽ dĩ-nhiên, nhưng thế không quan-trọng. Quan-trọng là làm sao trăng trở nên trăng của tất cả mọi người để trong người ta nó không còn sáng như một tội ác và một lời nguyền rủa.

Sự tương-đồng giữa người và người là nơi của sự tương-đồng giữa người và vật: Cho nên trăng vẫn chờ một nghĩa mới, không thực hơn nghĩa khác, nhưng trong ấy trăng lại có thể thuận ý người. Tạo cái nghĩa ấy là việc của thế-hệ này. Nhưng như tất cả những sáng-tác nó đòi có tưởng-tượng. Hơn nữa người ta chỉ thể tưởng-tượng những gì một phần nằo đã sẵn có. Mà đã có gì trong xã-hội này của một tương-lai đáng cho người ta tưởng-tượng và ao ước? Hình như giờ người ta thiếu cả hai! Và tưởng-tượng và cái đáng tưởng-tượng. Không đủ sức và đôi khi cũng không muốn vượt những mâu-thuẫn của thời-đại mà họ đeo trong người và sống qua ngôn-ngữ, người thơ đương-thời đã chọn một cách tự dối mình là đặt vấn-đề trong tuyệt-đối. Họ bảo là họ làm thơ siêu-hình. Và cho thế này là hay! Họ tự hào đã có can-đảm nhìn thẳng những câu hỏi căn-bản của cái họ gọi là phận làm người. Cái lầm của họ rất lớn. Người ta chỉ có cái phận người ta xứng đáng và những câu hỏi căn-bản không thể giải-quyết được ấy thường chỉ xẩy ra khi người ta không làm chủ được thực-tại nữa. E rằng cái mà giờ người ta vênh-váo gọi là Siêu-hình chỉ là một cách đổ cho tự-nhiên và an-ủi sự thất-bại của mình. Nhưng ít nhất thì sự thất-bại ấy thơ đương-thời không dấu. Nó là sự thất-bại ấy sống qua ngôn-ngữ. Mà không thất-bại thì nó có thể có mặt trong thời-đại này như thế không? Sự thất-bại của nó là sức mạnh của nó.

Hình như người thơ đương-thời đã nhất-định rằng một sự có nghĩa là một sự bị phản. Nghĩa chỉ là nghĩa lạm. Và tất cả những câu xuôi tai và nghe có cái liên-tục của diễn-từ đều trở nên đáng ngờ. Ngôn-ngữ được coi như một cạm. Cho nên giờ thơ lấy chữ để phá ngôn-ngữ. Cái việc ngược đời của nó là làm tối nghĩa. Nó khó hiểu. Không tại người ta cho rằng thơ phải khó hiểu mới hay và những kẻ khác đời như thi sĩ cần có một ngôn-ngữ riêng để người thường không thấu nổi. Ấy là một thuyết đã lỗi thời và không ai nghĩ thế nữa. Cái khó hiểu của thơ đương-thời, đơn-giản hơn, là ở chỗ nó không có gì để hiểu. Không có ẩn ý. Vẫn những chữ ấy và những sự ấy. Khác là tương-quan giữa chúng không là cái tương-quan người ta chờ đợi ở một trật-tự người. Không thể quy chúng vào một cái gì đã biết sẵn. Người ta đành nhận chúng thế thôi! Và ngơ-ngác trước những chuyện chưa thấy bao giờ. Thế-giới mất cái vẻ yên-tâm thường ngày. Nó không của người nữa. Và những quái-tượng ồ vào. Nhẩy lên mặt người, sô người đi, và con người, như đã bẹp rúm, thấy nhưng không nhận ra. Những sự lạ đời, nhưng không thể chối được, vẫn đương-nhiên xông đến. Mà lấy gì để nhận ra? Người ta đã từ-chối tất cả những môi-giới để nhẩy thẳng vào cái thực trước con người.

Thơ đương-thời đòi mới, nhưng mới nghĩa là nguyên-ủy; nó đòi tự-do, nhưng để trả cho ngoại-giới, nó đòi cái thực như thế, nhưng chỉ gây nên những quái tượng. Xưa thơ là tác động đẹp nhất của ngôn-ngữ. Nó cho cuộc đời một nghĩa người như là cái nghĩa đẹp nhất. Và trong nghĩa ấy thì chữ và những sự bị diễn không ngừng theo nhau mà tiêu đi. Người ta không thấy chúng. Mà thấy nghĩa của chúng như một chứng-cớ của sự có lý của con người. Giờ tối nghĩa thì sự có mặt của chúng, trái lại, càng nặng và cộm lên và xù ra. Nhận ra chúng tuy-nhiên thì không thể. Chúng không nói gì nữa. Ảnh-tượng giờ là sự có mặt câm ấy và cực sáng và cực tối như “những mặt trời đen”. Nó là biên-giới giữa yên-lặng và ngôn-ngữ. Là nơi ngôn-ngữ chửa nên lời, thế-giới hoá gở, tất cả đều có thế và con người không thể làm người. Nghĩa là con người, nếu còn là một con người, đã mất trí nhớ. Và tất cả đều mới tuyệt-đối. Cái mới của Nguyên-Sa thì trái lại...

C.-Tuyệt-đối, giả tự-nhiên và chủ-quan mở.


Răng cắn vào môi cho chặt phút không ngờ.

Sự không ngờ ấy tuy-nhiên là một cuộc làm quen lại. Tất cả cũng bắt đầu trong ngạc-nhiên. Ấy chỉ là sự ngạc-nhiên nửa mừng và nửa tủi, trước những gì người ta không đợi nữa nhưng chờ đã từ lâu. Người ta tưởng tất cả đã hết. Thì chợt tất cả lại đến. Và dậy một tò-mò và thức một trí-nhớ. Một ước-vọng xưa và không tên đã được trả lời. Xưa TIỄN-BIỆT cáo-chung một ảo-tưởng đã lỗi thời thì, giờ, một có thể mới bắt đầu. Người ta chưa dám tin, nhưng người ta không lạ: người ta đã nhận ra, nhưng người ta vẫn còn ngờ. Tất cả thơ Nguyên-Sa ở trong những bước đi nửa chừng ấy. Và ngôn-ngữ e-lệ, ngập-ngừng, bỡ-ngỡ. Một cách rất có duyên. Khác hẳn sự ngơ-ngác, trông một tiếng thét lớn, của thơ đương-thời.

Hình như Nguyên-Sa vẫn khoan-thai như chưa bao giờ thật mất lối. Ngay trong TIỄN-BIỆT, khi tất cả đều như sắp vỡ để nước sông Seine bỡ-ngỡ chảy quanh cầu, thì sự bỡ-ngỡ ấy cũng không hẳn, như ai cũng thấy, của một người đi lạc. Sông vẫn chảy nó không chảy về đâu nữa, nhưng vẫn chảy quanh một cái gì. Có thể bảo thơ Nguyên-Sa là một thứ thơ nói quanh. Nó nói cạnh và ví-von và bóng-gió. Sao lại thế? Là một chuyện khác. Nhưng cách nói ấy là sự khác nhau giữa anh và người thơ đương-thời. Nói gì thì họ đòi nói thẳng như thế. Họ đốt tất cả những môi-giới giữa thực-thể và ngôn-ngữ để biến ngần ấy chữ trong thơ họ làm ngần ấy lòng của thực-thể. Nhưng “giữa lòng thực-thể”, như Bachelard, đã nói trong một câu thật là xinh, thì thực-thể lại lang-thang”, và đi tìm tuyệt-đối, người ta chỉ làm nổ tung lên và tri-giác, và ngôn-ngữ và thế-giới. Kết-quả ngược đời là ngôn-ngữ càng gần cái thực như thế thì cái thực như thế lại càng xa và rốt cuộc, không nói được gì cả, người ta đành lấy sự không nói được ấy làm nghĩa cuối cùng của tác-động thơ.

Trong khi ấy thì Nguyên-Sa cứ nói quanh lại cho ngôn-ngữ ảo-tưởng của một chiều đi nghĩa là của một nghĩa. Ai đọc thơ anh cũng hiểu được. Và người ta vội chê rằng anh không đi xa. Thì anh cũng chê thơ đương-thời - Ôi! Lố gì hơn cái lố của những cuộc cãi nhau trong làng văn! nếu sau chúng người ta không thấy, lấp dưới những sáo-ngữ (nhưng tại sáo mà lấy để chửi nhau rất đắc-lực) tất cả những gì đang vượt chúng - là lập-dị một cách rẻ tiền. Lẽ dĩ-nhiên anh lầm. Ai cũng hiểu là có những thời người ta thi nhau giống nhau và nghìn năm vịnh cái điếu và nhắc lại vẫn những công-thức ấy mà không mỏi thì cũng có những thời người ta thấy cần lập-dị để thoát khỏi những nơi ở chung đã trở nên, trong đồng-lõa và trá-ước, nơi của tất cả những mê-hoặc.

Con đường của Nguyên-Sa khác. Nhưng tôi không nghĩ như người ta rằng thơ anh chỉ là một thứ thơ tự-do nhút-nhát, không dám đi đến cùng và tốt lắm, cũng chỉ là một sơ-ảnh của những lối thơ táo-bạo hơn. Không. Anh không là kẻ ở lại nhìn người ta đi. Nói đúng hơn thì anh, xoay lưng trước những bế-tắc của thơ đương-thời, là một kẻ trở về. Không. Anh không đi xa, như người ta nói, nếu đi xa là sự giả điên ấy; anh không đi xa, nhưng anh nhằm đi chỗ khác. Người ta đã không hiểu gì, nếu, trong thơ anh, người ta không thấy một ý-chí quyết không nhường quyền cho những mãnh lực vô-nhân-đạo, không phải để ôm lấy một trật-tự đã cũ, nhưng để chờ và giành sự có thể cho một thế-giới mới và một con người mới. Trong khi thơ đương-thời cắm cổ chạy theo một trật-tự tự tại không thể có thì thơ Nguyên-Sa là ngần ấy tác-động của cái tự-do người. Anh trả lại con người siêu-tính và sức sáng-tác của nó. Và tôi trộm nghĩ rằng thế là tương-lai.

Anh không phá gì cả. Lẽ dĩ-nhiên thơ anh không theo đúng một luật nào. Nhưng những câu không vần và chẳng đều nhau ấy đâu có gì mới. Người ta làm thế đã lâu. Khác xưa thế để nghĩa chữ và cụ-tính của chúng càng tương-kết chặt hơn; và cái trật-tự người thể hiện trong sự liên-tục của diễn-từ, được sự liên-tục trong âm-thanh nghĩa là trong cụ-tính của chữ ứng-trợ, lại càng có vẻ chính-đáng và ngôn-ngữ lại càng có vẻ tự-nhiên. Nhưng Nguyên-Sa gieo vần lệch cũng như anh đặt câu so-le để làm mất sự tự nhiên ấy của ngôn-ngữ. Nghĩa vẫn còn, nhưng nhịp đã gẫy và những câu đứng trơ ra như không dựa trên gì cả. Mới nhất là cái giọng của chúng. Ấy là giọng đơn-sơ của một người nói chuyện. Nó không ca cũng như không thét. Nó nói và chậm và đôi khi ấp-úng như của người không sẵn chữ. Nó do-dự, ngần-ngại, e-dè và không ngừng để yên-lặng làm đứt quãng. Và không ngừng vượt yên-lặng để nên lời. Nhưng cái đà nói không có nữa. Thì một lời là một bắt đầu tuyệt-đối, một lời là một đọan-trường và con người không ngừng giết cái ngây-thơ nguyên-ủy của nó và của thế-giới để làm người. Sự làm người không còn là một sự dĩ-nhiên nữa. Nhịp thơ gẫy làm những câu nói tầm thường nghe dựng ngược như những câu nói liều. Ngôn-ngữ hết ẩn con người như một ngôi nhà nhịp-nhàng làm sẵn. Nó để con người lộ. Và Nguyên-Sa không dấu cái “tôi” của anh. “Tôi” là chữ anh thường để đầu câu. Không phải anh thích nói chuyện mình, nhưng, cũng như anh lấy giọng của người nói chuyện, anh cốt để người ta khỏi quên sự có mặt của người nói và trách-nhiệm của nó trong cuộc đặt nghĩa cho những sự đời. Tầm thường gì hơn là nói:

Tôi muốn ví mắt em như một vì sao.

Nhưng mấy chữ “tôi muốn ví” tố-giác ảnh-hưỏng ấy như một sáng-tác tự dưng. Mắt người tôi yêu như một vì sao? Áy là tôi nói thế. Thế có thực không là một chuyện khác. Nhưng tất cả xẩy ra như là tôi có toàn-quyền độc-quyết. Và đảm-nhiệm cái quyền ấy, tôi cho cuộc đời nghĩa. Thơ Nguyên-Sa không giới-thiệu một cá-nhân. Nó cho người ta thấy, qua những lời ai cũng có thể nhận là của mình được, một người đang cố làm người. Con người không phải của trời làm ra nữa. Nó tự tạo trong cuộc tạo ngôn-ngữ. Hay nói một cách khác thì nó tự bịa ra mình. Con người thật vẫn chưa có. Mới có một con người thiếu, nghĩa là còn giả-tạo và chưa thuận với thế-giới chung-quanh.

Ấy lằ một thực-trạng người ta thường không nhớ. Hàng ngày người ta nói và sự xuôi-tai của ngôn-ngữ làm người ta yên-tâm tưởng thế-giới vốn như người ta nói là một trật-tự làm sẵn cho người ta ở và người ta thật là con người thế-giới vẫn chờ. Người ta quên rằng ngôn-ngữ đang có và cái trật-tự nó thể-hiện chỉ là một giữa nghìn trật-tự và ngôn-ngữ có thể khác. Và tất cả những cái có thể ấy đã bị diệt-trừ để người ta có thể nói như người ta đang nói. Ngôn-ngữ dựng trên bạo-động. Lấy bạo-động để trả lời bạo-động là sự lẩn-quẩn của thơ đương-thời. Họ phá cái ngôn-ngữ đang có để thế-giới lại có tất cả những có thể của yên-lặng nguyên-ủy. Nhưng một câu họ viết để phá cái ngôn-ngữ ấy cũng phá cái yên-lặng ấy nốt, và từ câu này sang câu khác, thế-giới, tùy theo những thói quen, những chuyện yêu, những điều ghét, những dự-ước thầm của người viết, lại bị quy vào một trật-tự khác cái trật-tự của ngôn-ngữ đang có, nhưng vẫn chỉ là một trong những trật-tự có thể. Khách-quan tuyệt-đối lại đưa đến chủ-quan tuyệt-đối. Kết-quả là người ta có những thế-giới chữ từ chối lẫn nhau. Nhưng tất cả đâm ra đều vô-lý như nhau. Và ngôn-ngữ đang có cũng vô tội như tất cả những ngôn-ngữ có thể khác. Nó chì bị lên án để án lại được trắng hơn. Bạo-động lại minh-oan cho bạo-động. Ấy là mâu-thuẫn của thơ đương-thời cũng như của tất cả những thái-độ tuyệt-đối. Người ta từ-chối tất cả để lại công-nhận tất cả, Và vẫn mất mặt con người trong một vòng khủng-bố không ngừng quay.

Khủng-bố là từ-chối đối-thoại. Người ta lập-dị. Và ký-cóp làm những bài thơ giả điên để, vỗ ngực là cũng có một thế-giới riêng như ai, người ta tuyên-bố rằng trong thế-giới ấy người ta là chúa và muốn làm gì thì, đã vào, ai cũng phải chịu. Ai không chịu thì cứ việc đi ra. Những kẻ khác thì có quyền chiêm-ngưỡng. Chứ còn gì nữa! Anh là anh. Tôi là tôi. Một người là một thế-giới riêng. Ai cũng có lý thì đối-thoại làm gì cho uổng công? Hình như Nguyên-Sa nhũn-nhặn hơn. Như người ta nói, anh không có thiên-tài. Mà giờ ai là thiên-tài? Thanh-Tâm-Tuyền? Sao lại không? Tôi cũng yêu người thi-sĩ ấy. Nhưng tôi nghĩ thiên-tài chỉ khác người ở chỗ nó như tất cả mọi người. Hay nói một cách khác thì nó đã vượt cá-nhân của nó để mở cái thế-giới riêng làm nơi tất cả mọi người lại nhận được mặt nhau. E rằng Thanh-Tâm-Tuyền và các bạn anh, qua ngôn-ngữ, đã lùi trong cái “tôi” của họ như người ta đi đầy. Họ đã thành những người ngoại đạo, ồ bên kia giới-hạn của ngôn-ngữ thường, và lấy sự khác thường của họ để kết án cái người ta gọi là thường như một trá-thuyết.

Không phải tôi không thấy trong con đường ly-khai ấy cái đẹp của nó. Nó của những tâm hồn kiêu-ngạo có những đòi hỏi vượt chúng, và cứ nhìn quanh mình, tính nhác biếng của độc-giả, sự ngoan-cố của một số nhà văn khác, cái đạo-mạo, tự-mãn và nhẹ dạ của đám người đang tranh nhau cái chức “trí-thức”, và trong mình, sức nặng của những truyền-thống văn-học trong nước và của ngoại-quốc, thì người ta thấy rằng, ít nhất, trong những ngày đầu-tiên, sự ly-khai ấy cũng không dễ như người ta tưởng. Hơn thế nữa, nó đã gây lại cho từ-chương của xứ này cái ý-thức của thảm-tính, của thiêng-liêng, của cái phần vô-nhân-đạo mà người ta cố quên trong cái giả tự-nhiên của cuộc sống thường ngày. Nó đã mang lại một số kỹ-thuật mới. Và chắc những người làm văn sắp tới không thể làm như không có cái kinh-nghiệm mấy năm rồi. Áy là một kinh-nghiệm sôi-nổi, có những sai lầm của nó, nhưng, tóm lại, đã làm giầu cho tất cả. Nhưng giờ người ta có cảm tưởng là nó đã đến chỗ bế-tắc và nhai lại. Ly-khai và khủng-bố mãi thì cũng chẳng đi tới đâu. Mà trong thế-giới của bạo-quyền thì còn gì buồn cười như sự làm chúa của cá-nhân trong mấy câu văn khổ?

Sự đề cao cá nhân ấy xưa ỏ Âu-châu đã gây nên một nền nhân-bản của sự khác biệt để chống lại cái giả tự-nhiên của con người cổ-điển, người ta đi tới chỗ ca tụng sự giết người! Lẽ dĩ-nhiên từ ngôn-ngữ đến tác-động còn xa và, tuy gào to, một A. Breton chẳng hạn cũng chửa giết ai bao giờ. Thế dễ hiểu. Nhưng người ta tưởng, nếu không có can-đảm giết người, thì những nhà văn ấy ít nhất cũng thản-nhiên để người ta giết nhau. Họ đã công phẫn phản-đối những cuộc tàn-sát của Quốc Xã và của Staline, tuy Staline và Quốc Xã cũng đều giết người để xây-dựng một nhân-loại người hơn. Hình như người ta chợt thấy rằng con người mà hàng ngày người ta từ-chối, nếu nó chưa thật là người, thì cũng đáng sống và được bảo-vệ như một sơ-ảnh, thực-hiện qua đã nhiều thế-kỷ và thương đau, của con người thật mà người ta vẫn chờ, và chờ con người thật ấy thì người ta không thể, không tự mâu-thuẩn, tuyệt-đối từ-chối con người đang có. Con người đang có ít nhất cũng có. Nhân danh một con người chưa có để minh-oan những cuộc tàn sát chỉ là ngụy-luận. Nhưng lấy gì để kết án những cuộc tàn-sát ấy, nếu người ta nghĩ rằng con người đang có không có gì đáng giữ? Những kinh-nghiệm đau-xót nhất của thế-kỷ này, kinh-nghiệm Quốc Xã, kinh-nghiệm Staline, kinh-nghiệm Hiroshima cho người ta thấy rằng khủng-bố không đủ nữa. Thơ Nguyên-Sa bắt đầu trong ý-thức là cần trở lại con người, những người đang sống quanh anh, thiếu và chằng-chịt mâu-thuẫn.

Sự thiếu ấy Nguyên-Sa, như tất cả những ai giờ đã lấy ngôn-ngữ làm sự lập thân, đã sống qua ngôn-ngữ. Khác là anh nhận nó. Những người khác ly-khai. Họ nhẩy ra ngoài cuộc và, từ cái “tôi” của họ, tuyên-bố rằng họ chỉ là những người làm chứng, đóng vai quan-khách, lên án tất cả và gào rằng họ vô-tội. Áy chỉ là một ảo-tưởng. Và thật ra thì trong cuộc sống vô-nhân-đạo này không có ai chỉ là người làm chứng và cái án trắng của họ còn đáng ngờ gấp mấy những gì họ lên án. Có lẽ tại biết thế nên Nguyên-Sa đã nhận cái ngôn-ngữ đang có. Anh không thừa-nhận nó. Anh nhận rằng cùng tất cả mọi người anh trách-nhiệm những sai-lầm của nó và, trong một thế-giới đã vỡ, không ai có thế vô-tội một mình. Hơn thế nữa, nếu những ngôn-ngữ ly-khai và khủng-bố rốt cuộc, như người ta đã thấy, lại minh-oan cho cái ngôn-ngữ đang có thì Nguyên-Sa, nhận cái ngôn-ngữ đang có, lại cho người ta thấy rõ hơn bạo-tính của nó.

Cái bẫy của ngôn-ngữ chụp thế-giới vào một nghĩa nó không có. Nó cho cuộc thống-trị, qua cái nghĩa ấy, của một số người, ảo-tưỏng của tự-nhiên. Nó đổi tôi ra một người khác, làm tôi nói khác những gì tôi nghĩ, xui tôi nghĩ và ưng những gì thực ra áp-chế tôi. Thì sao tôi không bẫy lại ngôn-ngữ. Với một giọng khác đi, với vài chữ thêm vào, Nguyên-Sa đánh tụt cái mặt nạ khách-quan của nó xuống, vẫn những chữ quen thuộc ấy. Chúng mỉm cười và quyến-rũ và mời vào, nhưng thoắt một cái, vừa được nửa câu, thì những gì người ta vẫn tưồng là dĩ-nhiên chợt thòi ra là không có gì thị-thực và toàn do người ta tự-ý lập nên. Một câu của Nguyên-Sa là một câu tự nghi-vấn-hoá. Sau một câu lại thấp-thoáng nghìn câu có thể khác chống lại. Và sự làm người, trong một câu, là một lần bị lên án. À! Thế ra đời không có nghĩa sẵn và nghĩa cỏa nó chỉ là của người đặt ra. Cuộc thống-trị của người chỉ là một thống-trị. Không ai cho nó phép. Con người trong Nguyên-Sa tự tố-giác lầ một nghịch tự-nhiên. Và người ta chợt cảm thấy, nặng vô-cùng, cái gánh của chủ-quan. Thơ Nguyên-Sa không ném vào mặt người ta một cái “tôi” tác-quái. Nó lễ-độ cười như để xin lỗi là đã tầm-thường. Ai cũng có thể nhận thấy mình trong nụ cười ấy. Nhưng trong nụ cười ấy người ta ngạc-nhiên thấy bộ mặt thưc của mình.

Nguyên-Sa cười như để bảo người ta đừng tin anh. Người ta nói thì nói gì cũng muốn nói như thật. Thế-giới tưởng của ma làm. Sự như thế tại nó thế. Không ai trách-nhiệm cả. Lẽ dĩ-nhiên trách-nhiệm của người ta. Nhưng người ta lẩn sau cái vỏ khách-quan của ngôn-ngữ đã choàng lên tất cả một bộ đồ giả tự-nhiên. Lấy ngay thơ đương-thời chẳng hạn. Còn gì chủ-quan hơn thứ thơ ấy? Và lạ đời! Nhưng lạ nhất là trong khi ấy nó vẫn tự xưng là làm chứng cho thời-đại. Mà quả có thế. Chưa mấy khi một thời-đại lại có mặt trong thơ như thời-đại này trong cái ngôn-ngữ khóc ra máu ấy với tất cả những cái xấu, những cái khổ, những cái khốn-nạn của nó. Nhưng tất cả đều trở nên lạ. Tại tất cả đều như ở trên trời rơi xuống. Người làm thơ chỉ đứng nhìn và kêu lên. Ngay cái tôi của họ cũng đã biến thành một đồ có đầy vô tội vạ và gở như một thiên-tai. Nghĩa là chủ-quan của họ cũng như tất cả đều đã được tự-nhiên-hóa. Họ chỉ làm chứng, như họ nói, và sáng- suốt nhìn. Áy là cái sáng-suốt đã bị tê-liệt của một ý-thức đã bị thôi-miên. Họ trố mắt trông. Nhưng đã mù. “Mặt trời đen”. Cái gì cũng thấy, mà đâu có thấy gì! Tất cả đều trơ ra, vô-nghĩa và đáng sợ như những quái-vật không có tên. Tất cả đã được thiêng-liêng-hóa. Nhưng tại người ta đã không dám cho chúng nghĩa để vượt chúng. Hình như người ta nghĩ rằng tốt nhất là đổ tại là thế-giới điên. Người ta bảo người ta cũng điên nữa. Người ta bị quỷ ám, ma làm, và có khi vừa là ma vừa là phù-thủy. Nhưng phù-thủy cũng là ma. Và những luận-điệu ấy chỉ để dối mình và loè người, khi người ta không đủ can-đảm nữa để nhận mình là chủ cuộc đời và chủ mình.

Cái mới của Nguyên-Sa là anh cho biết không có ma-lực nào ở sau những chữ, nhưng tự do của con người đang sảo-tác thiên-nhiên. Thơ anh người ta thường chê là quá tài-tình. Anh chơi chữ và những ảnh-tượng như một người làm ảo-thuật. Khác là anh không dấu rằng ấy chì là những ảo-thuật và, hơn thế nữa, còn cho người ta thấy những trá-tác của nó ra sao. Như một người đánh bạc nhưng để lộ quân bài. Ảo-thuật của anh làm người ta tỉnh mắt. Tôi yêu người thi-sĩ ấy đã dám, khi người ta thi nhau mê-hoặc nhau, để lộ những khoé của nghề, và trong một nụ cười, xui người ta nghi ngờ anh; nhưng anh chỉ nói như tất cả mọi người, thành ra, xui người ta nghi ngờ anh, anh cũng xui người ta trỏ về nghi ngờ mình. Anh đã nhận cái ngôn-ngữ mang tiếng là của tất cả mọi người ấy để lật tẩy nó. Khủng-bố và những mặt trời đen thật đã xa. Và ra đời một thứ thơ mới có thể gọi là thơ phê-bình. Nó phê-bình, tự phê-bình, mời người ta phê-bình nó. Chủ-quan của nó là một chủ-quan mở về người khác và để người khác nhìn vào. Và thơ và những động-tác ngôn-ngữ lại trở nên một cuộc phiêu-lưu mà nghĩa đi qua người khác để những nguy-hiểm của đối-thoại lại bắt đầu.

Ai cũng biết rằng, trong thế-giới này, đối-thoại thường là chỗ vong-thân. Mà còn gì nguy-hiểm hơn là để mình bị đổi mà mình không biết và để những gì mình vẫn tưởng là thật chợt bị hóa ra sai? Nhưng Nguyên-Sa nghĩ rằng anh chỉ thể làm người giữa những người khác, và, nếu ai không biết Chân-lý thế nào thì nhận người khác là một cách cho cái lầm của mình một giới-hạn. Thành ra cái chủ-quan mở của anh rốt cuộc, cũng là một khách-quan tương-đối. Sự tương-đối ấy anh không ngừng nhắc, trong nhịp thơ gẫy và khéo để dở-dang, cho người ta khỏi quên. Nhưng anh nhận nó, Anh nhận sống trong tương đối, để tố-giác nó, nhưng cũng tại, theo anh, nó là lối độc-nhất của một Chân-lý có thể. Một lý-thuyết ngắn cũn cỡn và dễ thường dạy người ta rằng ai cũng có một lý riêng. Ai cũng có quyền chui vào cái mai của mình và muốn nói gì thì nói. Như thế đỡ phải đối-thoại. Người ta sống bên nhau như sỏi và đá chờ khi nào cần thì giết nhau. Mà tôi đâu nói quá! Ấy lầ thực-trạng của cuộc đời thiếu Chân-lý này. Chối nó là mù-quáng và mê hoặc.

Nhưng thế có phải là một cớ để tự-mãn giam mình trong một sự-thật lẻ không? Không có sự-thật lẻ. Thì Chân-lý cũng không ở cuộc toàn-thắng, qua sức mạnh của sự-thật này trên sự-thật khác. Chân-lý vượt những sự-thật lẻ và duy-nhất chúng. Như thế nó chĩ có thể trở thành trong đối-thoại. Và người khác không lả người tôi phải giết. Mà công nhận người khác, như người ta vẫn nói một cách suông thôi, cũng không đủ. Người khác là sự thiếu của tôi. Và đảo lại. Hay nó một cách khác thì người ta chỉ có thể làm người với nhau.

Sao lòng tôi không là vô-tận
cho gặp gỡ những đường tầu đi song song?

Cố-gắng đến chân-lý không là một cố-gắng loại trừ. Nó là một cố-gắng thâu gồm tất cả để đổi lòng mình thành một nơi tất cả lại gặp nhau. Nụ cười của Nguyên-Sa, như người ta thấy, không sí-soá tất cả những sự khác nhau, và để tự an-ủi rằng tất cả, vừa sai vừa đúng, đều như nhau và người ta chĩ có việc yên thân trong cô-độc của mình. Trái lại, nó đánh thức, giữa sự có liên-tục ngoài mặt của ngôn-ngữ, như một vết thương, thảm-tính của tự-do và sự thiếu của con người. Nhưng cũng như một nụ cười nó mang một hy-vọng. Rằng sự thiếu trong ấy người ta sống lạc cũng là sự có thể của Chân-lý và của con người. Ít nhất Nguyên-Sa cũng tin thế, và tin-tưởng ấy, anh đã gặp trong tình-yêu. Nhưng thế không phải lần đầu tiên một thi-sĩ được tình yêu lầm mối với cuộc đời. Có phải câu thơ này của Éluard?

Tu es venne j’etais triste j’ai dit oui
C’est à partir de toi que j’ai dit oui au monde

D.- NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CỦA TÌNH-YÊU


I.
Tôi muốn ví mắt em như một vì sao

Cuộc đời trước tình-yêu như thiếu sáng. Và người và tôi, cách nhau một quãng cách tuyệt-đối, không thể tìm thấy nhau. Mà chắc đâu là có người và tôi? Tôi không biết còn có tôi không nữa. Nhưng tình-yêu đến sáng-tác lại những người yêu. Mắt người tôi yêu, trước không là gì cả, chợt trở nên như một vì sao. Cũng như vì sao ấy trước tôi không thấy có, nhưng được nàng môi-giới giữa tôi và nó, đã trở nên là môi-giới giữa chúng tôi. Không có nó thì tôi lấy gì so với mắt nàng nghĩa là để bảo nàng là tôi yêu? Nó là cái soi sáng cho tình-yêu của tôi.

Mà lòng tôi vẫn nhìn,
Không bao giờ chớp mắt
Như em vẫn nhìn
Nụ cười của em
Trong mắt tôi.

Nghĩa là qua nó tôi lại là môi-giới giữa người tôi yêu và chính nàng cũng như, ngược lại, trong nàng, tôi lại thấy tôi. Mất người khác, trong TIỄN-BIỆT, tôi mất tôi. Nhưng tình yêu trả lại tôi người khác và trong người khác trả lại tôi cho tôi. Qua một vì sao cao tít mù. Hình như vì sao ấy là vì sao con người bơ-vơ của TIỄN BIỆT đã nguyện-ước:

Sao người không là vì sao nhỏ
Để cho tôi nhìn trong đêm thâu?

Ẩy là vì sao của Chân-lý soi đường cho những người yêu tìm nhau khỏi lạc. Một vì sao, như thi-sĩ nói, chưa có ỏ trên đời. Tôi lấy nó để so với mắt em. Nhưng nó thế nào tôi đâu biết! Và tình-yêu của tôi lập trên một sự thiếu không cùng. Sự thiếu ấy tuy nhiên không còn là một khoảng không tuyệt-đối ly-gián người ta nữa. Nó có một tính-cách tích-cực. Quanh nó một tình-yêu đã có thể, thiếu, nhưng cũng là một tình-yêu để cho phép một ngôn-ngữ, thiếu, nhưng cũng là một ngôn-ngữ. Và đã bắt đầu một con đường tương-tri. Thành ra tuy chưa có, vì sao ấy, tôi vẫn thấy:

Ngủ muộn hơn sao hôm
Dậy sớm hơn sao mai.

Nghĩa là ngày cũng như đêm đứng giữa trời chì lối cho tình-yêu của tôi. Tôi thấy nó có ngay trong sự thiếu của nó. Sự thiếu nó là mặt trái của sự nó có. Không có nó thì lằm sao tôi biết nó thiếu? Thì làm sao chúng tôi yêu nhau được? Nhưng tại nó chưa có mặt nên tình-yêu mới là một tình-yêu nửa chừng. Kinh-nghiệm của tình-yêu trong ấy tôi gặp người khác như một người và đảo lại, chỉ là kinh nghiệm ngược đời ấy của sự có như một sự thiếu - và, qua sự thiếu ấy, yêu-sách phải có - của một Chân-lý vượt tất cả những cá nhân, như một vì sao, nhưng trong ấy những cá-nhân có thể vượt mình nhận ra nhau và, qua nhau, nhận ra mình để làm người, nghĩa là để vào một thế-giới có người và có ta. Hay nói một cách khác thì tôi yêu là tất cả chúng ta sẽ có. Ấy là trong thơ Nguyên-Sa trực-giác và cá-ước nguyên-ủy. Và câu hỏi trên kia của TIỄN-BIỆT đã được trả lời. Nguyện-ước bâng-quơ của nó đã thành một hy-vọng có thực. Hy-vọng ấy tuy-nhiên, như tình-yêu nó đã tạo ra và đã tạo ra nó, cũng chỉ có như một cuộc tạo hy-vọng. Nếu tôi không muốn có một vì sao để so với mắt em thì làm thế nào vì sao ấy có? Cái Chân-lý nó giới-thiệu như một siêu thể vượt tất cả mọi người, nếu nó có, cũng không có ngoài con người nhưng của con người làm ra. Sức sáng-tác của con người là sự có-thể của nó.

II.
Và của con người sáng-tác có gì đẹp hơn ngôn-ngữ. Có ngôn-ngữ tôi mới có Ihể nói tôi yêu em. Ngôn-ngữ trong thơ Nguyên-Sa tự tố-giác là một ngôn-ngữ nhân-tạo. Và nhân-tạo trong một thế-giới còn ly-gián là chưa thật. Ấy là cái mặt thẩm của nó. Nhưng nó cũng có một mặt sáng là từ-chương. Cái từ-chương mà thơ đương-thời muốn diệt đến cùng để vào thẳng cái đêm nguyên-ủy lại có đầy trong thơ Nguyên-Sa để làm chứng cho sức sáng-tác của con người. Sáng-tác có nghĩa là sảo-tác. Quan-niệm thơ của Nguyên-Sa đặt những mãnh-lực của thiên-tài ra ngoài cuộc. Anh chỉ tin ở cái tài người làm thơ luyện nên. Một bài thơ theo anh là một thực-hiện kỹ-thuật. Và anh chủ-trương một thứ thơ dụng-trí. Những cgữ trong thơ anh như chỉ có bề mặt. Chúng không giới-thiệu một thế-giới bên kia con người, nhưng không ngừng làm người ta lạ trước cách xếp-đặt tài-tình của chúng. Ấy là những kiểu ví-von không ngờ, những ảnh-tượng đơn-sơ mà mới, những lối nói quanh-co như để rỡn với chữ. Mà có cần gì đâu? Nguyên-liệu của thi-sĩ không có mấy, và thường mượn của cuộc đời thường ngày. Sự thường của chúng tuy-nhiên trong thơ anh, là nguồn của tất cả những sự lạ. Mấy mắt len đan, một con chỉ rối, một chiếc thước kẻ bỏ đi anh cũng lấy để diễn-tả được nỗi buồn không giới-hạn của một ngày tình-yêu bị nghi-ngờ. Anh chỉ cần một chữ, một chữ rất quen, nhưng không ai nghĩ ra, chẳng hạn:

Nét mặt dịu như vần bằng

và người ta thấy, trong một nụ cười, tất cả giấc mộng yên-bình của tình-yêu. Nhưng cảm-động trong Nguyên-Sa rất ít. Mà cảm-động ở giọng nói nhiều hơn ở ảnh-tượng. Thường người ta chỉ có thì-giờ ngạc-nhiên trước cái khéo của tác-giả. Và thơ anh có lẽ giờ là thứ thơ độc-nhất trong ấy ngôn-ngữ còn là một hạnh phúc. Ít nhất thì ấy cũng là một ngôn-ngữ còn biết làm duyên, trang-điểm, riêm-rúa, nghĩa là còn biết văn-minh là gì. Nó của một người thợ thơ biết chắp chữ giỏi và nó đưa người ta vào một thế-giới của người làm.

Không phải trong thế-giới ấy tự-nhiên không có mặt. Nhưng ấy là một tự nhiên lành và dễ bảo. Con người thiếu tự-nhiên, nhưng chỉ có một tự-nhiên của người. Nó tưng-bừng theo nhịp bước của những người yêu cũng như trong những lúc chia-ly người ta thấy sương và mưa che mờ nhau. Cái tự-nhiên ấy không nặng hơn một ảo-tưỏng. Nó không bí-mật, không đe-doạ và cũng không mời vào một chiều sâu. Hình như nó chỉ là một cái bóng của người. Và người ta có thể bảo rằng trong Nguyên-Sa con người tạo ra tự-nhiên. Hạt thóc ấy chỉ nẩy mầm tại có người gieo! Ruộng lúa xanh. Con cò trắng. Ai cũng tưỏng sự vốn như thế. Nhưng Nguyên-Sa viết:

Tôi không thề chối ruộng lúa xanh, con cò trắng.

Và người ta chợt nhớ rằng không có sự nào mà người ta không chối được và sự nào cũng chỉ có, nếu có người đảm nhiệm chúng và, trong một tuyên ngôn, làm chúng đứng trong đời. Người ta chợt nhớ rằng trong những sở công-an có những dụng-cụ tinh-vi để làm người ta chối những gì người ta vẫn nghĩ là thiêng-liêng nhất, những tín-ngưỡng sâu xa nhất, những tư-tưồng chân-thành nhất. Người ta chợt nhớ rằng có những kỹ-thuật mới của tuyên-truyền cũng như những cách nhồi sọ khoa-học để giục người ta tin những chuyện khó tin nhất. Kể cả những chuyện sẽ đưa người ta lên máy chém! Trong tiểu-thuyết 1987 G. Orwell có tưởng tượng một chính-thể độc-tài đã dạy được những công-dân tin rằng 2 lần 2 là 5, ai còn dám bảo câu chuyện ấy giờ không có thể? Người ta đã biết thế nào là tẩy-não và tra-tấn. Và lời từ chối nhũn-nhặn của Nguyên-Sa lại càng làm người ta cảm động như cố gắng của một người - khi đời loạn và người ta không biết tin gì nữa, vì tin gì người ta cũng biết rằng chỉ trước cực hình và cái chết người ta mới biết là có tin thật hay không - đang lấy sức mình dựng lại, trước bạo lực vài sự-thật tối-thiểu để bắt đầu một thế-giới người:

Tôi không thể dẫm trên tay những người tôi thương yêu.

Vẫn một giọng thản-nhiên và lễ-độ ấy. Nhưng tình yêu đã có mặt trong đời như một giới-hạn bất-khả xâm-phạm để cản những mãnh-lực vô-nhân-đạo. Thế-giới thiếu Chân-lý và người ta bảo rằng tất cả đều có thể; người ta tưỏng thế là đã giải-phóng con người; nhưng cái muốn tự do muốn làm gì cũng được, ấy chỉ là một cách gây thêm loạn và để cuộc đời cho vật-lực chỉ-huy. Hơn nữa nếu tất cả đều có thể thì tất cả đều như nhau. Sao theo con đường này mà không theo con đường khác? Con đường nào cũng thế thì theo con đường nào? Mà theo một con đường làm gì? Một đằng thì tự-do bị trói, một đằng thì tự-do hóa gở, con người không tìm đâu thấy một chiều đi. Nó đã vượt tất cả mọi giới-hạn để tự giam mình trong cái mênh-mông của vô-đạo. Nhưng vô-đạo chỉ có giá trị như một giai-đoạn phê- bình cần phải vượt qua. Lẽ dĩ-nhiên có người vẫn còn quên mình trong việc đặt lại những vấn đề và gọi nhau phá những giới-hạn không còn nữa. Nhưng Nguyên-Sa biết rằng các tự-do người chỉ bắt đầu trong sự sáng-tác những giá trị nghĩa là khi nó đã thắng sự chóng mặt của nó để tự đặt cho nó giới hạn. Ấy là một tự-do tự từ-chối mình để trở thành. Tất cả đều có thể, nhưng có những điều tôi không thể nhận; tôi chưa biết tôi phải làm gì, nhưng tôi biết, để giữ sự có thể cho một chân-lý tôi chưa biết mặt, những gì tôi không thể làm. Tôi biết tôi không thể từ chối tình yêu, vì chỉ trong tình yêu tôi mới thấy, như một nhu cầu thiết-yếu, cần có một chân-lý vượt cá nhân tôi và tất cả mọi người để con người làm người và những người yêu gặp nhau.

III.
Nhưng chọn tình yêu, Nguyên-Sa biết anh đã chọn ngược đời. Anh thuộc một thời đại đã lên án tình yêu. Những người trẻ tuổi giờ tự hào là sáng-suốt. Họ coi tình yêu là một canh bạc bịp, và cái tình yêu xưa người ta ca tụng, dưới con mắt nghi ngờ của họ, chỉ là một tình cảm ngây ngô dành cho những người con gái đọc tiểu-thuyết quá nhiều. Tốt lắm thì người ta bảo rằng ấy là một thiên đường đáng cho người ta ao ước nhưng thực, không thể có. Cái triết lý bi-quan ấy tuy-nhiên cũng còn lành! Cách đây không lâu tình yêu còn bị coi là một tội. Ấy là thời người ta nêu gương sáng của những kẻ giết anh, tố cha, bắn chồng cho chính-nghĩa. Người ta đã kết tội tình yêu cũng như tất cả những gì là tình-cảm như một xa-xỉ-phẩm tiểu tư-sản. Và trong nó, người ta chỉ thấy ích kỷ, ủy mị, duy tâm, phản tập-thể. Ai giữa chúng ta, nếu chữ chúng ta còn có một nghĩa, đã không bị sự nghi ngờ đó làm tối mắt? Chúng ta đã nghi ngờ tất cả những gì có thể làm, chúng ta thuận với mình để tin rằng chỉ có đố kỵ và oán-thù là thực. Mới độ nào Camus viết: “Không được yêu chì là một sự không may. Nhưng không yêu mới là cái họa lớn. Và tất cả chúng ta giờ đang chết vì cái họa ấy”! Nhưng Nguyên-Sa không chịu chết, anh từ chối sống trong ly-gián.

Anh tố giác thế giới của ly-gián như một của giả. Giả nghĩa là nhân tạo, nhưng nhân tạo, khi người lại thuận người, là một cách, qua môi giới của kẻ khác, làm quen với tự nhiên. Cái giả của ly gián đưa người ta vào thế giới của những đồ vật chết. Của những nan mắt cáo, của súng, của lưỡi lê và của dây thép gai. Ấy là những đồ của người làm. Nhưng tất cả xảy ra trong Nguyên-Sa như chúng đã ăn mất ngững người đã tạo ra chúng. Còn lại một thế giới vô-danh, trừu-tượng. Lạnh như tiếng sắt chạm vào nhau. Một thế-giới của những đồ kim khí và đứt quãng - như một giãy chấn song sắt - nghĩa là đã bị cái chết làm cứng lại và ăn từng mảng lớn. Vằ trong thế giới ấy, người ta thấy đi lạc những người có đôi môi khô
Vỉ sống ở một trần gian nước mặn.

Họ không biết yêu là gì nữa. Cuộc đời đã dậy họ tự thắt mình lại trong cô-độc để chống lại cuộc đời. Nhưng cô-độc không cho họ thấy họ. Họ trở nên sai-lệch như chiếc thước kẻ để ngoài nắng mãi đã cong đi, và cằn cỗi. Những đôi môi khô ấy sắp nẻ. Và những bước chân không đều dẫn họ vào một cơn mê nửa chừng để sống - ngái ngủ và se mình - như những kẻ mất hồn trong một mắt nhìn le lói. Một căn bệnh không tên làm tội họ. Nhưng hơi thở trùng và nụ cười vướng trên gò má làm chứng cho một sự suy-lạc của thế giới bên trong. Như tất cả những tế-bào của thực thể, theo họ, cũng se lại, kéo đi và rã rời. Thành ra sự đứt quãng trong tương-quan của ngoại-giới cũng bắt đầu một sự đứt quãng giữa nội- tâm. Và trở lại mình để tìm mình, người ta chỉ thấy mình sụp đổ dần cho đến khi, trên một bờ sông, còn trơ lại độc hai bàn tay làm tích.

Tình yêu trái lại có sức gây liên tục. Nó bắt đầu trong nước mắt. Ấy là nước mắt lại ra đời của người từ biệt cô-độc của mình để gặp mình trong người khác. Một giọt nước mắt nhỏ thôi, nhưng, giữa ly-gián và gian khổ thế có nghĩa là hạn hán trong thực-thể sắp hết và cuộc sống đang trở về.

Từng giọt nước mắt vỡ
Như hạt thóc nẩy mầm

Và như cái mầm non đang trồi lên ấy, thế giới và xác thịt của từng người từ khô, lạnh và cứng, trở thành nơi tương-kết của một nguyên-lực và một cái gì rất dịu và rất ngọt ngào, vai người con gái lại mềm như đòn gánh và cánh tay nàng lại “dẻo như đôi quai”.

Dẻo và mềm mại, tại tất cả, ở bên trong, đã chắc lại. Tất cả lại nguyên lành, tất cả lại được nối liền nhau, và sức sống chẩy đều dẫn cuộc đời nở lên những mặt phẳng mịn và đương tơ của những nội cỏ, những bàn tay lá biếc, những mái tóc trẻ thơ, những nét mặt dịu như vần bằng. Hạnh-phúc mặt phẳng của một cuộc đời đã hết đứt quãng để sống lại! Hạnh-phúc uyển-chuyển nữa của trao đổi, của tương-tri, của sự đi và lại giữa mọi sự và mọi người. Những bàn tay nắm lấy nhau, và bắt đầu những con sông và những con đường. Tình yêu ở thể động là một dòng. Nó chảy. Hình như nguyên tính của nó là lưu thủy và nó có thực chất là nước. Nước là chất gây liên tục. Làm cho có sự liền nhau trong chiều dài, trên mặt phẳng cũng như ở bên trong. Cho nên không ai lạ, nếu Nguyên-Sa tưỏng đến mùa của tình yêu, trong một nhân loại thống nhất, như “một mùa nước rông":

Hội lòng người như nước nguồn xối-xả.

Tất cả những con sông đã về lòng biển cả cũng như tất cả những con đường đã gặp nhau ở nơi của chân-lý nghĩa là ở vô tận. Cuộc đời chuyển theo vòng tròn như, trong TIỄN BIỆT, thi sĩ đã ước ao:

Sao nước không nguồn cho sông đi quanh?

Giấc mộng ấy đã thành. Lịch sử đã hết. Và mùa xuân sẽ ở mãi không đi. Hay nói đúng hơn là nó đi và lại theo nhịp một chiếc võng đong đưa. Như nhịp của hơi thở, của thủy triều, một thời gian không ngừng tự nhắc lại. Còn chân lý? Nó đã xuất hiện và tan trong cuộc đời để trả lại tự nhiên cho con người và con người cho tự nhiên:

Để lòng chúng mình
Và mạch máu Đồng-Nai
Đập cùng một nhịp

Không biết thế có phải là một tương lai đáng ước. Nhưng câu hỏi thật là vô ý-thức. Làm thế nào những con người thiếu giờ có thể biết và xét được con người hòa giải của ngày mai? Ngay cả chữ người cũng sẽ đổi nghĩa và mộng của Nguyên-Sa chỉ là mộng. Cái phần mộng và tiên tri ấy có lẽ không phải phần đẹp nhất của thơ anh. Nhưng nó cũng cùng một gốc với cái kinh-nghiệm nguyên-ủy đã cho phép anh thoát khỏi sự tuyệt-vọng đang cám dỗ người đương thời. Anh đã thấy trong tình yêu sự có thể làm người của tất cả và, ngược lại, cái viễn đồ ấy là sự có thể của tình yêu. Anh không khám phá ra tình yêu và người khác. Cái mới của anh là đã biết rằng tương quan với người khác chỉ có thể có qua môi-giới của một cái gì vượt tất cả mọi người. Và tình yêu cũng thế, tự nó, không thể sống. Cho nên trong Nguyên-Sa nó không còn là nơi giam hại cá nhân nữa. Mà nó đẩy những người yêu vào một thế giới còn ly-gián để vượt ly-gián ấy trong hy-vọng ở chân-lý của một nhân loại giải hòa. Và chính sự vượt ấy theo một chiều lên, làm nó sống và đặt giữa những người yêu một quãng cách cũng là một môi giới.

IV.
Trong từ chương mới thì trái lại người ta chỉ nói đến tình yêu như một sự không có thể. Không phải không có những người yêu. Người ta yêu nhau hơn bao giờ hết. Nhưng chưa bao giờ tình yêu ác như thế. Người ta yêu nhau để, kết luận, đành công nhận rằng không thể yêu nhau. Sự thất bại của tình yêu tuy nhiên không do ngoại trở. Nó nằm trong định mệnh của tất cả những tương quan người. Ai cũng biết rằng sự không thể tương tri giữa người và người là một đề tài đã cổ. Song người ta có thể tự hào rằng sang xứ này, dưới những ngòi bút mới, nó đã như được sống lại và càng trở nên thảm. Và tình yêu chỉ là kinh nghiệm thảm nhất của sự không thể ấy. Thế dễ hiểu. Giữa những người dưng thì ly-gián chỉ là một sự khó ở. Không ai hiểu ai. Nhưng chẳng sao. Người ta nhắm mắt độc tấu, để hiểu lầm và bị hiểu lầm, và rốt cuộc, thế cũng qua ngày! Không ai cảm thấy thực cần ai cả. Nhưng trong tình yêu thì ly-gián là một địa-ngục. Những người yêu, theo định-nghĩa, không thể nhận được ly-gián. Họ không thể yêu nhau mà cũng thể bỏ nhau. Và sau cùng họ bị nhốt trong tình yêu. Họ là những người đã từ chối một xã hội trong ấy họ không nhận ra mình nữa để tìm lại mình trong mắt nhau. Nhưng họ không thể thấy nhau. Họ muốn thấy nhau, cũng như họ muốn thấy cái thực-như-thế, ngoài tất cả mọi môi-giới. Không có gì giữa họ nữa. Nhưng quãng cách không có ấy cũng là một quãng cách không thể vượt qua. Họ hôn nhau, cắn nhau, vuốt ve nhau và cố ghì nhau thật chặt để, sau một phút mê-cuồng, lại thấy xa nhau như sỏi và đá, và cứ thế mãi cho đến khi, dày vò nhau chán, họ chỉ còn cách giết nhau để thoát khỏi cô-độc. Không-gian của tình yêu tuyệt-đối ấy cũng như của tất cả những tương quan người trong một thế giới thiếu chân-lý, là một không-gian và đạo nghĩa là đã mất lối, và tất cả những cử-chỉ để tìm nhau càng tha-thiết lại càng gây thêm loạn. Tất cả đã xẩy ra trong một thế-giới không có chiều. Hay đúng hơn thì nó một chiều duy nhất. Ấy là chiều của trọng-lực. Và trọng-lực giam người ta như những tĩnh vật và gọi người ta xuống cái chết - cái chết lớn cũng như cái chết nhỏ của những cuộc mây mưa - để tất cả đều hòa làm một. Tình yêu trở nên một sa-đọa. Cuồng dâm và án-mạng là hai mặt của nó. Nó là cái xã-hội gọi là tội ác. Và người ta hiểu sự có mặt của người gái chơi trong thế-giới ấy của tình-yêu. Xưa người kỹ-nữ của Xuân-Diệu chẳng hạn, tuy ở ngoài xã-hội, nhưng vẫn công-nhận xã-hội, qua những khách chơi công-tử như một tổ-quốc thật và chỉ mong được quy-nạp lại để thoát khỏi phận ly khai của mình. Giờ thì ngược lại. Người gái chơi bị xã-hội từ-chối cũng đã từ chối xã-hội. Và như nàng, người khách chơi cũng chỉ là một kẻ đã ly-khai. Hắn thấy ở nàng một người đồng cảnh và đảo lại. Sự đồng-cảnh ấy làm họ yêu nhau. Họ tưỏng tình yêu tự nó là một giải thoát. Nhưng như người ta thấy, tình yêu, khi không có gì vượt nó để cho nó một ngày mai, chỉ có thể kéo dài trong sa-đọa. Hay đúng hơn thì người ta đã chọn sa-đọa trong tình yêu tại người ta không biết có một chiều đi nào khác. Và người gái chơi, như con người sa-đọa đã bị xã-hội nhốt ra ngoài, chỉ là môi giới đẹp nhất giữa tôi và cái siêu-trầm-thể (transdescendance) đang gọi một thế-giới không có chân-trời.

V.
Nhưng thật ra người ta chỉ có những chân trời người ta muốn. Và như Giraudoux nói, “peut-être, si vous vous aimiez, l’amour appelleraitil à son secours l'un de ses égaux la générosité, l’intelligence” Những người yêu của Nguyên-Sa không phải không nghe thấy tiếng gọi của những chiều không có đáy, không phải những chiều cô-độc lớn, trước sự đe dọa của ly-gián, người ta không muốn chìm vào nhau ngay trong mắt nhau và thao thức gọi nhau lại gần nhau.

Bằng một lối gần hơn con đường thẳng.

Nhưng cũng may là người ta thoát được cám dỗ ấy. Và câu thơ của Nguyên-Sa chì để tự-trào. Anh biết rằng con đường gần nhất ấy chỉ là một ảo-tưởng. Nghĩa là tình yêu chỉ có giữa hai người như mộr quãng cách giữa hai người. Xóa quãng cách ấy để như người ta nói, cả hai làm một, cũng là xoá tình yêu nốt. Quan-trọng là đổi quãng cách ấy thành một con đường môi giới. Cho nên những người yêu của Nguyên-Sa có nhìn vào mắt nhau chăng nữa thì cũng “để mở một chân trời rất rộng”. Ắy là chân trời xa “vô tận cho gặp gỡ những đường tầu đi song song”, nơi sẽ xuất hiện của vì sao giờ chưa có, chỗ tình yêu thực hiện và nhân-loại giải-hòa. Nhưng nhân-loại chưa giải-hòa, tình yêu chưa thực-hiện. Giữa những người yêu còn đứng một chân trời chưa tới, một ngày mai chưa thành, một chân-lý chưa có tên. Vằ tên người tôi yêu tôi chưa thể gọi và mắt người tôi yêu, tôi chỉ biết như một ảo ảnh. Những người yêu vẫn không hết tìm nhau:

Bước chân lại gần
Bước chân gần lại

Ấy là những bước chân đi mãi. Khác là chúng không lạc nữa. Hình như đã có một chỗ hẹn đang chờ chúng. Và tình yêu có lẽ chỉ là một sự lại nhau không cùng. Nó chưa tròn, nên chúng mình vẫn còn yêu nhau mãi; tại chúng mình chưa bao giờ thực biết mặt nhau, nếu “em vẫn là em" và như thi-sĩ nói:

... Áo không có màu nên áo vẫn chưa phai
... Tình chưa cũ bởi vì tình chưa mới

Chữ “vẫn” đi liền với chữ “chưa”. Và thơ Nguyên-Sa chạy quanh một sự vắng mặt để làm chứng cho một sự trường-tồn. Ấy là sự trường-tồn, dựng trên một sự vắng mặt, của hy-vọng. Hy-vọng được khám phá trong tình yêu cho phép những người yêu đương đầu với ly-gián đang đe-dọa trong họ và ở ngoài đời, từ chối nó và vượt nó, nghĩa là thoát khỏi những cám dỗ của không-gian vô-đạo để mở một chiều và một thời-gian người.

Nhưng thời-gian của chữ “vẫn” là một thời-gian không ngừng bắt đầu lại. Và người ta đi vào một thế-giới lúc nào cũng dở dang, giữa sống và chết, của những nụ cười gượng-gạo những mắt nhìn vẫn đục, những giọng nói nghẹn-ngào. Nhưng thế-giới nửa chừng ấy cũng là thế-giới mới nguyên của những mầm mới mọc, những cánh đồng lúa non, những bàn tay vô-tội. Sự thiếu của nó, được đảm-nhiệm, đã trở nên một có thể không cùng. Cuộc đời được khám-phá lại, mới không ngờ, làm người ta không dám gọi tên. Vừa mừng, Nguyên-Sa vừa e ngại:

Lòng vẫn sợ nhầm
Dù chỉ từ một đến hai?...
Tay không dám đọc dù một tờ giấy mới.

Một tờ giấy mới là để viết. Nhưng đâu nó có bảo tôi phải viết gì? Mà viết gì thì nó cũng hết mới. Cuộc đời, cũng như tờ giấy mới ấy, vẫn chờ tôi đổi ra lời, nghĩa là, qua ngôn-ngữ, cho nó một nghĩa. Nhưng nghĩa nào, nếu có một Chân-lý mà tôi không biết mặt, không làm tôi xa Chân-lý, cuộc đời có vết và hy-vọng tổn thương. Nếu chân-lý có thì một bước đi sai cũng như một lời nói lạm, đều có thể làm tôi mất lối suốt đời. Và người ta hiểu vì sao Nguyên-Sa e-ngại. Hy-vọng của anh không là một tiếng cười đắc thắng. Nó là sự bắt đầu của ưu-tư, và người ta có thể nghĩ rằng, để giữ nó nguyên lành, thì tốt nhất đừng nói. Hóa ra nó chì làm mới cuộc đời để trói con người chặt hơn sao? Mầ chẳng lẽ Nguyên-Sa chỉ thoát khỏi ngần ấy không có thể để lại trở về sự cám dỗ của yên-lặng? Nhưng yên-lặng là trả thế-giới cho bạo-lực và thế, cũng giết hy-vọng nốt. Hy-vọng chỉ có như một hy-vọng người ta làm có trong đời. Mà làm thế nào để có một cái gì dựng trên một sự vắng mặt? Làm thế nào để giữ cho hy-vọng trường tồn khi tôi không biết cái tôi hy-vọng thế nào? Nhưng cũng may, như người ta thấy, là tôi biết phải từ-chối những gì không có tôi hy-vọng. Và thế là hy-vọng, qua những từ chối ấy, lại có mặt trong ngôn-ngữ, như cái nghĩa ẩn và bất-khả-xâm-phạm của tất cả, nghĩa là, như một quãng cách giữa tất cả và nghĩa của chúng. Nó cho tất cả một chân trời. Nhưng ấy là một chân trời tôi không thể tới. Một chân trời để tôi đi quanh! Nó ở ngay giữa cuộc đời và cho cuộc đời một trung-tâm. Nhưng trung-tâm ấy là một trung-tâm mất hút. Tôi có đi thì mới có nó. Và có nó thì tôi mới có thể đi. Cuộc đi của tôi chỉ là cuộc đi tìm nó. Nhưng tôi càng lại gần thì nó càng lùi xa. Tất cả xảy ra như trong một cuộc chơi bắt bóng. Và những chữ không ngừng với lệch ra ngoài những sự bị diễn, Nguời ta không thấy nghĩa của chúng, nhưng quãng cách giữa chúng và cái nghĩa ấy.

Cũng như Nguyên-Sa thường đặt giữa anh và mắt người anh yêu quãng cách của những vì sao, của một màn sương đục, của một bước đi ngại ngùng, ngôn-ngữ của thơ anh là một ngôn-ngữ nói không nhiều hơn nói có, để hỏi hơn là để trả lời, để tự trào hơn để người ta tin như giữa chữ và những sự bí diễu bao giờ cũng có một sự so le. Khác hẳn cái ngôn-ngữ trụi và đứt quãng của thơ đương thời đang cố gò chữ và những bị diễu làm một nghĩa là tự-diệt như một ngữ để thể hiện cái đêm dày của cái thực như thế! Hình như Nguyên-Sa nghĩ rằng sự thực, như thế nào người ta không thể biết mà cũng không cần biết. Quan-trọng là biết nghĩa của chúng để người ta có thể gặp nhau và nghĩa chỉ là một quãng cách giữa chúng và những chữ. Nhưng không phải quãng cách nào cũng là của một nghĩa. Và sự khác nhau giữa thơ anh và ngôn ngữ thường ngày chỉ có thế. Vẫn những chữ ấy nhưng ở chỗ người ta chờ có một nghĩa, thì chỉ thấy một khoảng không; vẫn những chữ ấy, xếp theo một thứ tự và một chiều đi ấy, nhưng chúng không đi tới nữa. Chẳng hạn trong câu thơ:

Hơi thở chùng như sợi chỉ không căng

Thì chữ như ấy không chỉ để tô điểm. Nó của một cái biết nửa chừng. Sự người ta đưa cho tôi biết chưa được biết thì đã bị người ta đánh tráo để chỉ cho tôi một sự khác. Cứ thế mãi. Và tôi chạy theo lối người ta chỉ để, ngoảnh lại, thấy mình vẫn ở nguyên chỗ cũ. Ngôn ngữ chạy quanh. Những chữ nhô ra, rồi lẫn vào nhau, nhưng không dẫn đến một nghĩa nào mới. Hình như chúng đã bị “thó” mất giữa đường. Chữ như cũng như chữ hay là trong Nguyên-Sa có cái tác dụng “thó” ấy. Và nhạc rất đều và lẹ chỉ lầm cho những chữ biến càng mau. Nó không có một mục-đích diễn tả và đổi ngôn-ngữ ra một trò ảo-hóa. Những ảnh-tượng đẹp nhất của thơ Nguyên-Sa là những ảo-ảnh. Người ta chạy theo chúng, tưồng chúng có gì cho người ta xem. Nhưng đến nơi thì hóa ra chẳng có gì. Mắt người tôi yêu như một vì sao, nhưng vì sao ấy chưa ra đời; tôi sinh ra để gọi tên em, nhưng tên em chỉ có thể gọi bằng một chữ không có trong hai mươi nhăm chữ cái, chúng mình nhìn vào mắt nhau, nhưng trong mắt nhau chỉ thấy một chân trời để trống. Tất cả đều đưa vào một sự thiếu không cùng.

Tất cả những tại sao
Vẫn có một vì sao lòng mình không đến được.

VI.
Nhưng quan trọng không là đến nó. Quan trọng là nó có để cho người ta có thể đi, thế giới có một chiều người, những người yêu có một chỗ hẹn và những chữ lại có thể cầm tay nhau dẫn lối. Những chữ trong thơ Nguyên-Sa cầm tay nhau thành nhạc để bắt đầu một chuyến đi không ngừng. Ấy là nhạc của Orphée trên đường dẫn người yêu về dương thế. Orphée không cướp được người yêu khỏi cái chết, nhưng chưa ra khỏi địa ngục thì chưa được phép nhìn nàng. Mà bao giờ người ta mới thoát ra khỏi địa-ngục? Bao giờ tôi mới có thể nhìn mặt người tôi yêu mà không biến nàng thành một ảo tưởng? Hơn ai hết Nguyên-Sa đã tả đúng thơ anh khi anh nói trong một giờ chán nản: “(tôi) hỏi rừng để rừng bảo hỏi cây. Cây khuyên hỏ lá. Lá bảo hỏi chim muông”. Nhưng thế là anh đã nói luôn cả cái phận làm người. Con người đuổi theo chân-lý mà không được thấy. Nhưng chân-lý chỉ có như chân-lý để con người đuổi theo. Quãng cách giữa con người và chân-lý là sự có thể không cùng của chân-lý, của con người, và của tình yêu. Chữ phận làm đã mất cái nghĩa nặng nề của định-mệnh. Và thơ Nguyên-Sa khai-mạc một mùa kiên-nhẫn tưng-bừng:

Cho tôi tìm một chữ mới
Không có trong hai mươi nhăm chữ cái
Đề bắt đầu tên em.

E.- Sự sa-đọa của một tư tưởng.


Nhưng ngôn-ngữ mới chưa thành. Và dương-thế còn xa! A! nếu Orphée không nhìn vội Eurydice, nếu Nguyên-Sa giữ kiên-nhẫn đến cùng, nếu! Nhưng, như thi-sĩ nói:

Con đường dài thẳng mãi có bao nhiêu

Và một kinh-nghiệm đã xuống màn. Kể số tác phẩm chẳng có mấy. Mà ai biết chúng sẽ có nghĩa gì cho thời sau? Yêu chúng cũng có người mà người ghét chúng cũng nhiều. Ít nhất thì Nguyên-Sa cũng có mặt. Và những thường tố, sự tương-kết giữa chúng cũng như giữa đề-tài và kỹ-thuật làm chứng trong thơ anh cho một kinh-nghiệm thành thực, và được nghĩ kỹ, về những điều-kiện đang còn của ngôn-ngữ và, qua ngôn-ngữ, về thực cảnh của con người đương thời. Lẽ dĩ nhiên những giải-pháp của anh chỉ có giá-trị cho anh. Nhưng làm sao người ta có thể không yêu cái đẹp và tinh-thần nhân bản của chúng? Làm sao người ta có thể quên, khi con người đang tự hỏi có một con người không, sự tin-tưởng mới ở con người nó mang lại? Không ngừng đổi không làm có và đổi có làm không, lấy sự thiếu của con người để trả lại ngây thơ cho thế-giới và lấy ngây thơ của thế-giới để trả lại những có thể cho con người, vừa tố-giác vừa xây-dựng tự-do, ngôn-ngữ “trêu ngươi” của Nguyên-Sa, đi nhưng chỉ đi quanh và đi quanh để có thể đi, một đằng tháo được những cái bẫy của giả-tự-nhiên, một đằng vượt khỏi những cám dỗ của vô-nhân-đạo, là ngôn-ngữ đáng kể nhất của thơ đương thời đã biết mượn một ngạc-nhiên để cá ước cho Chân-lý.

Thoạt tiên tôi cũng nghi ngờ cái ngôn-ngữ ấy. Thời-đại lầm người ta nghi ngờ tất cả những gì giống như hạnh-phúc. Hạnh-phúc của ngôn-ngữ Nguyên-Sa tuy nhiên chỉ là một hạnh-phúc biết tự chờ mình. Nó có nghĩa là kiên nhẫn. Là từ chối trực-nhiên (immédiateté) và chỉ có như một sự vượt mình mãi. Người ta đã thấy Nguyên-Sa bắt đầu trong cô-độc để vượt cô-độc đến tự-do. Nhưng cái tự-do thảm ấy cũng vượt cái thảm của nó để tự cho một giới hạn trong tình-yêu. Và tình-yêu lại dẫn Nguyên-Sa vào giữa những người khác để tự vượt trong hy-vọng ở một nhân loại giải-hòa. Chính hy-vọng ấy đã cho phép anh thắng bi kịch và trọng lực để trả lại động tính cho ngôn ngữ và từ một nhịp gẫy, làm những câu thơ xa-hoa và lộng nhạc nhất một thời.

Hy-vọng tuy nhiên không phải là tiên-tri. Và cái lầm của Nguyên-Sa là đã vội nói trước cái anh gọi là mùa xuân của ngày mai. Không phải nó không đẹp. Mà cũng không phải nó không thể có. Hơn nữa người ta có thể nghĩ rằng, đã tin là nó sẽ có, thì người ta có quyền nói nó ra. Oái oăm là nói nó ra thì nó lại không tin được nữa. Mùa xuân sẽ về. Nghĩa là mùa xuân vẫn có. Ở một đầu nào của lịch sử vẫn có một mùa xuân vẫn chờ nhân-loại từ muôn đời. Tương-lai của nhân-loại đã làm sẵn. Nhưng nó có ngoài con người. Và chỉ Nguyên-Sa có đặc quyền thấy nó trước! Hay nói đúng hơn thì anh đã tự cho quyền nhắm mắt trước thực tại để có thể chiêm-ngưỡng một tương-lai như ý muốn. Tương-lai ấy có thực chăng nữa thì, với cái quyền chiêm-ngưỡng nó, anh cũng chỉ sướng và có lý một mình. Huống chi nó chỉ là một giấc mơ! Thì không những anh đã tự ý bỏ những người chung quanh anh đang sờ soạng sống một kiếp sống nhá nhem mà anh còn làm tiêu hy-vọng anh nữa. Hy-vọng xưa là một có thể ở ngay giữa lòng thực tại. Nó được người ta làm nên khi, trong nghìn từ chối, trong một lối của tình yêu, trong một cách đặt câu cho thành thơ, người ta xếp lại thực tại để nó có. Không một lời nào nói nó ra. Tất cả những chữ tuy nhiên được xếp quanh nó. Và nó có như một kiến trúc, không bao giờ dựng xong, nhưng được dựng lại không ngừng. Tiên-tri đổi nó thành một sự sẵn có cho độc một người biết. Cái biết ấy khác gì của một ông thầy bói? Nhưng nhân loại không tin ở thầy bói nữa. Nó chỉ tin ỏ những gì con người tự làm ra. Và những sự thật để diễn tả càng ngày càng đáng ngờ. Ấy là một yêu sách mới nhưng căn bản của nghệ-thuật và Nguyên-Sa đã quên.

Quên đến nỗi anh rơi xuống chỗ anh làm thơ để dạy đời. Anh dạy người ta yêu nhau. Lẽ dĩ nhiên trong tình yêu anh đã thấy sự thật của mình và người ta hiểu anh muốn mọi người cùng sống kinh-nghiệm ấy. Nhưng anh quên rằng kinh-nghiệm ấy chỉ có giá trị như một kinh nghiệm riêng và độc nhất. Và đến lượt mình, ai cũng phải tự mở cho mình một con đường sống. Lẽ dĩ nhiên chọn một con đường cho tôi cũng là chọn một con đường cho tất cả những người khác. Nhưng sự ngược đời là tôi chỉ có quyền chọn cho người khác bằng cách đi tới cùng, trong cô-độc, cái kinh-nghiệm của riêng tôi. Mang cái kinh-nghiệm đó ra làm mẫu cho người ta theo là bắt đầu của mê-hoặc. Cái đẹp của tình yêu trong Nguyên-Sa xưa ờ chỗ nó chỉ là sự bắt đầu của tình yêu. Giữa nó và nó còn cả một thế giới chưa của người. Và những người yêu dấn mình trong một cuộc phiêu lưu đầy gian-nguy. Họ thấy họ tùy thuộc tất cả mọi người và một tình yêu thực không thể có trong một nhân loại còn ly-gián. Sự thống nhất của nhân loại là điều kiện thứ nhất để tình yêu thực hiện. Yêu nhau và giữ cho tình yêu đứng chỉ là mở mắt sống đến cùng yêu-sách thống nhất ấy. Nhưng Nguyên-Sa đã nghĩ khác. Hình như giờ anh nghĩ rằng nhân loại không thống nhất là tại người ta không yêu nhau. Và anh tự cho mình cái nhiệm vụ đi truyền bá tình yêu. Làm như tình yêu sẽ tự nó giải quyết mọi vấn đề và dẫn người ta vào một thiên đường có sẵn. Nhưng thế còn có thể lừa ai? Mà ai ngờ đâu ngần ấy sáng suốt đã qua lại có thể dẫn đến sự mù quáng ấy. Từ tiên-tri đến giảng-đạo ái-tình, thơ Nguyên-Sa đã hết là cái ngôn-ngữ đáng yêu trong ấy một sự thật tự xây dựng, tự thí-nghiệm và tự chờ mình; nó chỉ còn, như ngôn-ngữ thường ngày, là nơi của tất cả những mê hoặc, và dù anh có tài gấp mấy, anh cũng không thể cứu vãn tình yêu trong thơ anh khỏi là một ảo-thuyết ngây-ngô và trơ trẽn. Hình như Nguyên-Sa cũng biết và đã có lần tự hỏi:

Không biết cuộc đời có đưa đến tin yêu.

Nhưng cuộc đời chỉ đưa đến chỗ người ta dẫn nó đến. Câu hỏi của Nguyên-Sa có nghĩa là anh không còn kiên nhẫn nữa để làm hy-vọng mình sống. Hy vọng chết thì tình yêu đưa về đầu? Hình như Nguyên-Sa đã gọi người ta yêu nhau tại anh đã bắt đầu nghĩ rằng cái tình yêu chĩ một mình anh tin ấy chỉ là một kinh-nghiệm sai lầm. Anh muốn mọi người cũng yêu như anh để có thể yên-tâm. Anh đã thấy trong tình yêu sự cần những người khác ấy làm anh mất tin dần ở tình yêu. Và người ta không lạ thấy người thi sĩ của tình yêu ấy lại trở mặt gạt tình yêu ra ngoài cuộc đời và sau cùng chán chường nhìn nó như một ảo-tưởng ngẫu-nhiên thành để rồi thời gian lôi xuống cái chết. Cái chết trở nên nghĩa cuối cùng của tất cả. Hình như Nguyên-Sa tưởng rằng nghĩ thế là rất siêu-hình và sáng-suốt. Nhưng nói rằng tình yêu dù thế nào rồi cũng sẽ chết cũng như nói rằng tình yêu sẽ giải quyết tất cả cũng chỉ là hai ảo thuyết khác nhau. Mà nói sao cho đúng? Người ta chỉ dám mong là đừng quá sai lầm. Cái khó của ngôn ngữ thời đại này, khi thiên-nhiên và tự-do chưa thuận, là nói sao để vừa giữ nguyên cái mới của cuộc đời vừa trả lại con người tất cả những có thể. Không thỏa mãn được cả hai điều kiện ấy, thì ngôn-ngữ nào cũng chỉ là một cách mê hoặc. Và chắc Nguyên-Sa cũng biết rằng, những người của thế hệ này đã không nghi ngờ tất cả, ngay đến cả sự nghi ngờ của mình, để trở lại những lý thuyết mầu mè ấy. Người ta chỉ tiếc và ngạc nhiên trước sự sa đọa của một tư tưỏng. Nhưng thật ra thì sự sa đọa ấy đã bắt đầu sớm hơn người ta nghĩ.

Nhưng dòng máu không thể chạy ngoài huyết quản
Dù tôi yêu Paris hơn một người bạn yêu một người bạn
Hơn một người yêu yêu một người yêu

Áy là những lời Nguyên-Sa từ biệt Paris để về nước, về nước hóa ra một bổn phận và bổn-phận, một yêu sách không thể cưỡng lại của tự nhiên. Con người không thể sống ngoài tập thể của nó cũng như máu không thể chạy ngoài huyết quản. Qua tập thể con người thuận lại tự nhiên. Ấy là những gì Nguyên-Sa vẫn nghĩ. Khác là xưa trong thơ anh tự nhiên là một tự nhiên đang chờ được thực hiện trong sự thực hiện của tập thể. Giờ thì ngược lại. Và tập thể và tự nhiên như đã thành và chỉ đợi con người vâng lời. Nhưng tự bao giờ con người đã có một bổn phận vạch trước như máu có huyết quản để trôi theo? Thì ra từ biệt Paris Nguyên-Sa cũng đã từ biệt một tự do anh không dám đảm nhiệm nữa để xếp mình trong những nếp đời sẵn có. Anh thực đã trở về tự nhiên như anh muốn cho người ta tưỏng. Nhưng tự nhiên ấy, khi tập-thể chỉ có trong mộng, là một tự nhiên không của người. Và người ta hiểu tại sao, sau cái ảo tưỏng ngắn của ngày về trong “Bài Hát Cửu Long” anh chỉ còn biết tự an ủi trong tiên tri và kêu gọi những thiện-chí để, kết luận, khoanh tay công nhận sự suy tàn của tất cả theo một thời gian không có chủ. Con người đã thua vật lực. Và nỗi buồn của Josée chỉ đáp lại tiếng thở dài của bài thơ từ biệt Paris:

Con đường dài thẳng mãi có bao nhiêu.

Nguyên-Sa thật không còn là Nguyên-Sa nữa. Cuộc đời đã thắng người trẻ tuổi ấy cũng như nhiều người trẻ tuổi khác. “Chúng tôi cầm rơi mất một mùa xuân” Nói thế Nguyên-Sa biết anh đã không nói cho một mình anh, và bài này, tôi biết, cũng chỉ để tặng hương hồn một tuổi trẻ. Lẽ dĩ nhiên ai cũng có quyền thất bại. Và để tự an ủi, người ta có thể nghĩ như người xưa rằng chưa thất bại thì chưa biết thế nào là đại chí. Sự thất bại của Nguyên-Sa cũng như những giải-thuyết của anh xưa dù sao cũng đã cho người ta suy nghĩ một lần nữa trên những có thể và không có thể của ngôn-ngữ đương thời. Tiếc là đôi khi anh đã cố dấu sự thất-bại ấy sau một ngôn ngữ xa-hoa và những trá thuyết mà có lẽ chính anh cũng không tin nữa. Nhưng cũng có những giờ thành thực anh thú nhận là đã lạc vào xứ mê như một gã thủy thủ già lái tầu theo kim chỉ nam mà chỉ thấy toàn rượu ngọt và tự nghi ngờ:

Nhưng đã bao nhiêu lần đêm khuya
Anh không biết đã làm thơ
Hay đã chọn âm thanh làm độc dược

Ai giữa thế giới giáo điều và cuồng tín này đã có can-đảm tự nghi ngờ ấy? Quanh tôi người ta thi nhau kết tội nhau. Và nay thì đặt bổn phận này cho thanh niên và mai thì giao trách-nhiệm kia cho trí-thức, chững chạc và như không biết ngượng là gì. Tất cả trong miệng họ đều dĩ nhiên. Nhưng thế đâu có gì lạ? Những gì họ nói có phải của họ nghĩ ra đâu mà bảo họ sợ sai lầm. Lầm là ưu-tư và đặc quyền của những tư tưởng tự lập. Và một phút tự nghi ngờ của người thi sĩ giờ tôi thấy quý hơn tất cả những gì thời đại đã tuyển làm sự thật. Cho nên nhớ đến những phút tự nghi ngờ ấy, mỗi lần gặp những bài của Nguyên-Sa làm tôi muốn đốt cả thơ anh, tôi lại nghĩ rằng tất cả những người đã yêu anh xưa, như họ đã yêu thơ, có thể quên rất nhiều cho người bạn tài-hoa ấy. Quá tài-hoa. Nhưng tôi vẫn tin, một ngày kia, tôi còn thể lại nói rằng thế không có gì đáng tiếc.

Đỗ Long Vân

Đại Học số 31, tháng 2-1963
Tân Văn số 11, tháng 6-2008