VH Tiếng Nói Văn Học Việt Houston VH

VVH Tiếng Nói Văn-Học Việt-Houston (Viet Voice From Houston). Xin gửi bài vở về địa chỉ wendynicolennduong@post.harvard.edu. Contributing articles and commentaries should be submitted to wendynicolennduong@post.harvard.edu.

COPYRIGHT NOTICE AND DISCLAIMER

Về vấn đề bản quyền (copyright) cho tác giả Việt Nam của các bài viết được đăng tải ở đây: Chúng tôi nhận được những bài viết này từ độc giả hoặc từ các môi trường truyền thông của các nhóm người Việt, vì tác phẩm đã được phổ biến ở một môi trường công cộng nào đó. Chúng tôi mạn phép đăng tải theo lời giới thiệu của độc giả, dưới thẩm quyền "fair use exception" của luật trước tác bản quyền, vì làm việc cho mục đích giáo dục quần chúng, không vụ lợi. Nếu độc giả nào biết tác giả, xin cho chúng tôi biết để gửi lời chính thức xin phép, hoặc nếu tác giả không bằng lòng, xin cho chúng tôi biết ngay để chúng tôi lấy bài xuống theo ý của tác giả.

disclaimer re content

Quan điểm của tác giả hay độc giả trình bày ở đây không phải là quan điểm của người hay nhóm chủ trương VVFH, và vì thế chúng tôi không chịu trách nhiệm về những quan điểm hay dữ kiện đưa ra bởi tác giả hay độc giả. The views and supporting facts expressed by the authors or commenters published here are not necessarily those expressed or endorsed by VVFH or its editors. Accordingly, VVFH disclaims liability with respect to such content.

MỤC ĐÍCH:

Lời nhắn với học trò Việt Nam của giáo sư WENDI NICOLE Dương, cựu học giả FULBRIGHT Hoa Kỳ và cựu giáo sư luật đại học Denver:


Cô thành lập tập san này là đề cố gắng giữ lại những cái đẹp trong văn hóa cội nguồn của Việt Nam, đã giúp chúng ta đứng vững trên hai ngàn năm, dựa trên những giá trị đặc thù của người Việt nhưng đồng thời cũng là giá trị tổng quát của nhân loại. Hy vọng TIENG NOI VAN HOC VIET-HOUSTON, gọi tắt là VH, hay VVFH (Viet Voice from Houston) sẽ đến với người Việt trên toàn thế giới, qua độc giả thích văn chương văn học trong cả hai ngôn ngữ Việt-Anh, từ bàn tay và ánh mắt của một số it học trò Việt đang sinh sống ở Mỹ hoặc ở Việt Nam, của chính cô, cũng như của thế hệ đi trước biểu tượng là cha mẹ cô, những giáo sư ngôn ngữ.


Wendi Nicole Duong (Nhu-Nguyen) tháng tư April 2015

TRIO OF WATER LILIES

TRIO OF WATER LILIES
TRIO OF WATER LILIES enamel, markers, pen and pencil on paper. artwork by Wendi Nicole Duong copyright 2013: in all three regions of Vietnam, one can always find Hoa Sung, water lilies!

Saturday, November 20, 2021

SÁNG TÁC VÂN CHƯƠNG / HỒI KÝ CUẢ NGƯỜI DI DĂN VIỆT NAM

 EDITOR'S NOTE:  It's a beautifully written story. should be rewritten into english in descriptive language. If this is a true story, all the more it should win a literary prize. testament to human suferings, will, giving, and courage.  DNN


NHỮNG CON TRÙN ĐẤT XỨ NGƯỜI

( Kim Chi)
Vợ chồng Kim cùng anh Minh vượt biên và được Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ chấp nhận cho gia đình ba người này định cư ở Buffalo, một thành phố nhỏ của Mỹ nằm sát Canada, mà biên giới hòa bình giữa hai nước là cái thác Niagara Falls, một trong những kỳ quan nổi tiếng nhất thế giới.
Lúc ấy vào giữa tháng Ba năm 1986, trong lúc Khoa, chồng của Kim, đang lạch cạch chùm chìa khoá nhận căn nhà đầu tiên ở Mỹ, thì vợ chồng người Việt Nam hàng xóm sát bên nhà đã qua chào hỏi gia đình Kim thật niềm nở. Anh chồng cao lớn, nước da trắng hồng với cặp mắt kính cận dày cui, trạc chừng bốn mươi tuổi. Còn chị vợ tươi tắn và thật hoạt bát. Vui mừng và hạnh phúc biết là bao khi nhận được sự giúp đỡ tận tình của anh chị này vào những ngày đầu tiên ngơ ngác đặt chân lên một xứ sở đầy xa lạ, được xếp hạng văn minh nhất nhì trên thế giới. Chỉ độ năm ngày thôi, gia đình Kim đã được chở đi mua sắm, giải thích, chỉ dẫn rất nhiều. Sau khi biết Kim đang có thai đầu lòng ba tháng, thật cảm động, chị vợ đi gom góp đồ dùng và quần áo em bé ở đâu về đầy nhà cho Kim! Anh chị này thật tốt, đúng y hệt như cái tên: anh Đức, chị Hạnh!
Anh chị Đức Hạnh mời gia đình Kim qua dùng cơm chiều vài ngày sau đó. Vừa bước vào phòng khách, Khoa, (chồng của Kim) và anh Minh, (anh của Khoa) vô cùng mừng rỡ khi thấy anh chị ấy có một cây piano cũ để ở góc nhà. Gần cả năm trời ở trại tị nạn không có đàn để đánh, nên cả hai anh em giành nhau ngồi vào cái ghế piano, đánh say mê hết bài này tới bài khác trước những cặp mắt đầy ngạc nhiên lẫn thích thú của gia đình anh chị. Lúc ấy, anh Đức và chị Hạnh mới biết hai anh em của Minh và Khoa là nhạc sỹ. Chị Hạnh quay sang nhìn Kim, trợn mắt hỏi:
--- Còn em nữa? Chắc em cũng là... ca sỹ hả?
Khoa cười giòn tan, và đỡ lời vợ:
--- Gia đình của em họ... “Sỹ” cả chị Hạnh ạ! Chị có việc gì cho chúng em đi làm ngay không?
Chị Hạnh chớp-chớp con mắt có vẻ lúng túng. Chị ngần ngại liếc nhìn chồng như dò ý, rồi quay qua hỏi Khoa và anh Minh:
--- Hai anh có muốn đi làm kiếm tiền liền thiệt hông? Hôm nay anh chị cố ý mời qua ăn cơm để nói "chiện" này đây! Nhưng, cha ơi! Chị đâu biết tụi em là nhạc sỹ ở Sài-Gòn đâu?!
Quay sang nhìn chồng, một thoáng ngần ngừ, chị nói tiếp:
--- Bi giờ, không biết cái nghề này có hạp "dzới" tụi em hay không đây nữa... Chị định giới thiệu cho tụi em đi... BẮT TRÙN!
Cả ba Minh, Khoa, và Kim cùng trợn mắt lên nhìn chị. Thật là thích thú lẫn ngạc nhiên khi nghe chị giải thích cái nghề lạ lùng này. Chị nói:
- Mùa Xuân là mùa làm giàu của người Việt sống ở thành phố này đó! Nếu mấy em chịu khó đi bắt trùn, chỉ cần một mùa Xuân thôi là có thể mua được ngay một căn nhà đó à nghen! Hầu như những người Việt "dzừa" đến đây đều làm qua kí nghề bắt trùn này hết á! Gia đình em có ba người lớn, Kim đang có bầu thì ở nhà cơm nước, còn Minh và Khoa đi bắt trùn vài đêm một tuần thôi, cũng kiếm tiền hơn cả lương kỹ sư đó à nghen...
Rồi chị cao giọng lên, khoát khoát cái tay trong không khí:
--- Chèn ơi... Dễ lắm mà! Chỉ lượm mí con trùn ở dưới đất rùi bỏ dô lon, rùi đem bán lấy tiền xài thôi mà...
Và chị đãi giọng dài ra:
--- Chờ..ời ơi! Đi... lư..ượm.. tiền đó mà..à...!
Thế là ông anh chồng và chồng của Kim hí hởn nhận lời ngay tức khắc, nôn nóng chờ vài hôm sau "đi lượm tiền" mà không một chút nào lo âu. Trong khi Kim đực mặt ra lo lắng, ưu tư, vui buồn lẫn lộn…
Kim rất sợ rắn, mà Kim cũng sợ con trùn không thua gì con rắn. Trùn ở xứ Mỹ chắc được hít thở không khí tự do, ăn bơ sửa trứng gà hay sao mà chúng to béo đến thế?! Chúng dài và to gần bằng chiếc đủa ăn cơm, người chúng "mũm mĩm" căng phồng màu nâu hồng, trông thật kinh khiếp! Kim tự hỏi, làm sao đi bắt trùn được khi nhìn thấy chúng gớm ghiếc như thế?
Chị Hạnh mua vải thưa có lỗ như vải lưới mùng, rồi cắt may thành những cái bao như bao cát thời chiến tranh, nhưng nhỏ hơn một chút, miệng bao có đính dây. Khi thùng thiếc đầy trùn rồi thì đổ vào bao và buộc lại. Con trùn ở trong bao vẫn sống được nhờ những lổ thông hơi này. Chị may cho hai đấng mày râu độ hai chục cái bao, rồi chị bảo:
--- Mấy ngày đầu có bắt dở, chắc cũng phải được năm ba bao trùn một người chứ hén?! Rồi sau vài lần, bắt lên đến vài chục bao dể dàng thôi!
Kim tính thầm, một bao trùn bán độ trên dưới $20. Nếu hai "ông tướng" này bắt được trung bình mười bao mỗi ông, và mỗi tuần đi ba lần thôi, thì gia đình Kim sẽ có khoảng $1,000 dư dả cho một tuần. Nhà lúc ấy chỉ cần có $50,000 là mua được một căn nhà đẹp lắm... Mà chỉ cần đặt cọc 10% thôi cũng mua được nhà rồi... Đầu tiên, Khoa và anh Minh chắc chắn sẽ mua ngay một chiếc xe hơi cũ cho ba anh em đi học đi làm, để không phải đứng đón xe bus lạnh rét như cắt da cắt thịt vào những ngày Đông giá buốt. Khoa và anh Minh sẽ mua ngay một cây piano, cũ thôi, cũng đủ vui lắm rồi! Khoa và anh Minh cũng sẽ mua đồ đạc cho em bé, cho Kim, cho căn nhà trống lốc này, có thể nhắm mắt múa may, quay cuồng trong nhà cũng không đụng cái gì cả...
Nhưng, Kim chợt thót cả tim, bàng hoàng nhớ lại khuôn mặt thân yêu của bao nhiêu người ở VN đang khốn khổ...
Kim bồi hồi nhớ lại khuôn mặt đầy mồ hôi nhễ nhãi dưới vành nón lá của mẹ. Mỗi sáng sớm, mẹ phải chất bánh mì ngọt mà Kim đã thức trắng đêm để nhồi bột và nướng bánh, rồi chở đi giao làm nhiều chuyến khắp Saigon bằng chiếc xe đạp lọc cọc mà rớt nước mắt. Từ một bà Quận trưởng, mẹ của Kim đã biến thành một bà bán bánh mì da sạm nắng, áo quần bỗng rộng lùng bùng ra như bơi trong ấy sau cái ngày ba đi học cải tạo, nhà bị tịch biên, tiền bạc bị kẹt cả trong ngân hàng. Không ngờ, quyển sách dạy làm bánh Pháp mà ông cậu khi đi tu nghiệp ở Paris mua về làm quà tặng Kim lại nuôi sống gia đình những năm tháng "đổi đời" này.
Kim phải thức trắng đêm để vừa nhồi bột bằng tay, vừa nướng bánh. Cực khổ và nhục nhằn đủ cả, mà vẫn không có tiền dư ra để lo cho Kim đi vượt biên, mẹ phải bán hết những gì có thể bán, cũng chưa có đến nữa cây vàng! Rồi mẹ đánh liều, chạy đi mượn vàng của các bác khi xưa là nhân viên của ba. Các bác ấy thật là tốt, cho mượn vàng mà không hề ăn lời hay đòi hỏi khi nào phải trả cả. Ơn nghĩa này, Kim sẽ không bao giờ quên được. Khi có tiền, Kim sẽ gửi ngay về cho mẹ để mẹ gửi trả lại các bác thật đáng quý này...
Kim cũng thật xót xa, đau buốt cả hồn khi nhớ lại gương mặt đẹp mỹ miều của Phương, cô bạn học hoa khôi một thời của trường Gia Long. Cuộc đời Phương là những bất hạnh gắn chặt với tai ương, khốn khổ một cách lạ lùng. Phương là chị cả của năm đứa em nhỏ. Ba của Phương là Thiếu tá Truyền Tin Phủ... Tổng Thống, đã ở lại làm việc cho đến giây phút cuối cùng mà chế độ Cộng Hòa bị sụp đổ ngày 30/04/1975. Khi ông vào tù cải tạo ngoài Bắc, vợ của ông phải bươn chải đi làm ruộng rẩy bên kia sông Sài Gòn cùng với ba đứa con nhỏ. Một hôm, gió to nổi lên, chiếc ghe bị bể, rồi chìm từ từ giữa con sông lớn. Khi mọi người trên ghe nhốn nháo hoảng loạn, má của Phương chỉ ngồi nghẹn ngào dặn dò và trăn trối với thằng con trai mười bốn tuổi:
-- Con đừng lo cho má! Con gắng cứu hai em của con thôi.. Cố gắng lo cho ba và các em, gắng làm người tốt, gắng học hành…
Hai đứa em gái của Phương đứa mười tuổi, đứa tám tuổi, đã bám chặt cứng lấy tay anh của mình. Sông quá lớn và sâu, mà thằng bé thì chỉ biết lội sơ sài thôi... Khi người ta cứu nó vào bờ, nó đã khóc rống lên thật thảm thiết, tay chân chòi đạp vùng vẫy, rồi tự đấm vào ngực nó ình-ình vì chính nó đã... hất tay hai đứa em gái của nó ra…
Thi thể hai em gái của Phương được kéo lên bờ ngay hôm ấy. Nhưng, đến ba ngày sau đó mới tìm thấy thi thể mẹ của Phương. Mớ tóc dài của mẹ Phương rối nùi, quấn chặt vào một chân cầu cách nơi xảy ra tai nạn khoảng ba cây số..
Vào lúc ấy, Phương đang đi theo người hàng xóm học cách mua bán gạo lậu ở miền Tây để mong phụ được má của mình nuôi năm đứa em thơ và ba trong trại cải tạo. Phương lúc ấy cũng như Kim, chưa tới mười tám, như đóa hoa vừa hé nụ hàm tiếu, còn rất ngây thơ lẫn ngờ nghệch, Phương đã bị bọn lơ xe cùng lũ tài xế cưỡng hiếp trên đường đi buôn! Bão táp vẫn tới tấp trên đầu Phương: Phương...có thai! Cái thai vừa mới tượng hình, thì ba cái quan tài to, nhỏ nằm sát bên nhau ở ngoài sân nhà…
Người tài xế “lính kiểng” cho ba của Phương, đã cứu vớt cuộc đời của Phương bằng cách cưới Phương và nhận cái thai ấy là của mình. Anh Tâm lớn hơn Phương một con giáp, là người Tàu lai Việt. Anh chỉ bị đi tù cải tạo một năm thôi là được thả ra. Nhưng ba của Phương thì đi "học" vĩnh viễn không có ngày về! Ông đã chết vì đói, chết ngay trên luống khoai mình trồng…
Phương được anh Tâm thương yêu hết mực. Anh săn sóc các em cùng đứa con trai của Phương tận tình. Anh mua bán thuốc tây, bỏ mối khắp các tỉnh. Chỉ trong vòng một năm thôi, anh đã mua xe hơi để việc mua bán, giao hàng dễ dàng hơn. Tất cả mọi việc trong ngoài đều được anh lo toan chu đáo, Phương hầu như không biết gì cả. Cuối tuần, anh chở Phương và cả nhà đi chơi, đi ăn uống thật vui vẻ.
Những tưởng Phương được đền bù một cuộc sống sung sướng và hạnh phúc sau chuổi ngày lao đao khốn khổ, nào ngờ đâu… Nhưng bọn công an phường khóm đã ập vào nhà vợ chồng Phương. Như những con chó hoang đói khát, chúng lục soát nhà Phương lấy hết tiền mặt, thuốc tây và lấy đi luôn chiếc xe hơi của anh Tâm. Anh té quỵ vì uất ức, rồi toàn thân bị bại liệt từ đó. Nước mắt anh lăn dài trên gò má, chảy xuống cuộc đời trầm luân của Phương...
Những gì còn có thể bán được trong nhà, Phương đã cố gắng bán đi để sinh sống và chửa trị cho anh Tâm. Rồi chỉ độ chừng nửa năm, Phương đã phải ngượng ngập thoa son trét phấn đêm đêm bán thân bán sắc để cố gắng nuôi ba đứa em không cha không mẹ, cố gắng chữa trị cho người chồng kính yêu…
Thế mà đã dứt tai ương đâu? Khi đang ở trại tị nạn, Kim lại nghe tin Phương bị... ung thư... Phương ơi! Thương mi quá! Đường đời có bao nhiêu gian truân đày ải đều bủa vây mi. Phương ơi! Hãy mạnh mẽ lên nhá, khi tao có tiền rồi, tao nhất định sẽ gửi về ngay tức khắc cho gia đình mi..
Tưởng tượng ngày mẹ và Phương nhận tiền mình gửi, Kim thấy hạnh phúc sung sướng ngập tràn cả hồn. Kim quên hẳn giấc mộng mua nhà, mua xe hơi, mua piano của mình...
*
Hai đấng mày râu vui lắm, bàn tán lăng xăng, ngậm thuốc lá phì phèo, chộn rộn đi ra rồi... đi vào! Anh chị Đức mua tất cả "đồ nghề" giùm cho Khoa và anh Minh! Đồ nghề của mỗi người muốn đi bắt trùn phải có là:
- Áo quần chịu được lạnh và mưa gió từ khoảng 40 cho đến 60 độ F (Khoảng 5 đến 15 độ C).
- Giày bốt cao su không thấm nước.
- Hai cái thùng thiếc tròn, cao độ hai tấc, đường kính độ 16 cm. Mỗi cái thùng này sẽ có hai sợi dây thun to bản ràng chặt vào hai bên chân phía dưới đầu gối. Một bên thì để đựng trùn, còn một bên thì đựng mạt cưa nhuyễn như cám.
- Một đèn pin mang trên trán mà ta thấy các bác sĩ tai mũi họng hay đeo trước trán, với cục pin vuông to tướng đút vào trong túi áo lòng thòng sợi dây nối với cái đèn.
Hai đấng mày râu mặc thử vào, người này...trầm trồ người kia! Còn Kim, đã dấy lên xót xa rồi, sao cái nghề kiếm tiền gì mà phải ăn mặc quá là cồng kềnh, dị hợm thế kia? Hai đấng mày râu này chưa bao giờ biết rửa chén, quét nhà, không biết có làm ra trò trống gì đây không?!
Khoa và Minh được anh Đức giới thiệu với anh Ba, người chủ xe van chuyên chở dân VN đi bắt trùn. Có khoảng mười người VN trên xe. Mỗi người phải trả cho anh tiền chuyên chở mỗi đêm là $5. Và khi bán trùn, mỗi thùng trùn cũng phải trả 50 cents cho anh. Hẹn nhau khoảng 8 giờ tối, vì đêm khuya thanh vắng trùn mới ra. Đặc biệt, trùn rất thích ngày có trăng, (Chúng nó cũng romantic quá đi chứ!).
Anh Ba chở mọi người đến một cái farm nuôi bò cách thị trấn độ 40 phút lái xe. Người Mỹ chủ farm thật tốt, cho phép đám dân VN khốn khổ này lếch thếch vào farm của ông bắt trùng mỗi ngày mà không hề đòi hỏi cái gì cả. Anh Ba bảo, cứ mỗi dịp lể lộc như Noel, anh biếu ông Mỹ này một chai rượu Hennessy đắt tiền ( Cho thấy anh là người không thiếu tiền lẫn tình...).
Mọi người xuống xe chia ra nhiều hướng, bắt đầu im lặng "làm việc". Anh Ba hướng dẫn hai anh em Minh Khoa tư thế bắt trùn. Anh lom khom như người đi cấy mạ, rồi dùng năm ngón tay mà kẹp bốn con trùn, nhẹ nhàng, kheo-khéo rút trùn ra khỏi mặt đất. Bắt hai bàn tay cùng một lúc là được tám con trùn, rồi thả vào lon thiếc bên phải. Xong, anh nhúng cả mười ngón tay vào lon mạc cưa bên trái để khi bắt trùn không bị trơn trợt! Anh đi chỉ độ 20' thôi là trùn đã đầy thùng, rồi anh đổ lon trùn đã đầy này vào cái bao lưới mà anh nhét sẵn trong túi áo. Cứ đầy thùng thiếc này là có khoảng bốn trăm con trùn, anh buộc dây chặ?t lại, để vào một góc riêng biệt nào đó mà anh phải nhớ để cuối ngày lấy về. Anh bảo, có nhiều khi anh "say mê" bắt trùn quá, anh đã không nhớ ra anh để bao trùn ở đâu vì farm quá lớn. Thế là công cốc! Anh cũng dạy khi kéo con trùn lên, phải kéo theo cái chiều con trùn nằm. Nếu kéo ngược chiều là con trùn sẽ bị đứt và chết. Con trùn chết mà nằm chung với con trùn sống, sẽ lây các con trùn khác chết theo... Chủ trùn sẽ không chịu mua, và sẽ kiểm "hàng" gắt hơn vào những lần sau...
Ông anh chồng không nghiện thuốc, nhưng trước khi "xuống" tay, anh xin thằng em nghiện ngập một điếu để lấy can đảm. Hai anh em vừa đứng phì phà khói thuốc, vừa ngắm nghía bóng tối chung quanh... Hai "sỹ" chỉ quen sống ở SG thật ồn ào náo nhiệt, chưa bao giờ được chiêm ngưỡng cảnh ban đêm thanh vắng với tiếng côn trùng rĩ rã, cóc nhái kêu ảo não trong tiết trời giá rét như thế này. Vài ánh sáng đèn pin xa xa mờ ão càng buồn và càng nhớ nhà vô cùng. Ủa! Mà các con trùn đã biến đâu cả rồi?! Hai ông nói chuyện rân trời, đi xẹt-xẹt tới đâu là trùn thụt nhanh xuống đất tới đó! Thỉnh thoảng, Minh cũng cố chụp được một con, giựt nó ra khỏi lòng đất. Nó quẫy người vùng vẫy kịch liệt trên tay Minh... Khủng khiếp quá! Dễ sợ quá! Minh thả ngay con trùn xuống đất, rắc-rắc cái tay lia-lịa như thể con trùn vẫn còn bám tay anh…
Khoa cười ha hả khoái chí, rồi bảo ông anh chết nhát xem mình bắt trùn đây. Khoa đi nhè nhẹ đến một gia đình trùn đang ưỡn ẹo, rồi thật nhanh, các ngón tay của người "sỹ" này thô bạo tóm gọn đầu gia đình họ trùn, nắm chặt và giật mạnh lên. Hỡi ôi! Các con trùn đứt ngang người, kêu "chít" thật nhỏ nhưng đầy thảm thiết, rồi dùng tàn lực để giãy giụa, và yếu dần, yếu dần…
Chưa hết, đang đi, bỗng thấy mấy đống... phân bò to tướng, anh Minh la toáng lên để thằng em trai mình kịp thời mà tránh....
--- Ê! Ê! Coi chừng! "Kít" bò! "Kít" bò kìa…
Thế là các con trùn lặn ngụp trốn ngay xuống lòng đất, không để lại một vết tích gì cả!
Mới có vài cái lom khom thôi mà hai ông tướng đã đau lưng và đói bụng quá... Mặc kệ sự đời chung quanh, Anh Minh và Khoa cởi bỏ hết "đồ nghề", lôi bánh mì mà Kim đã nhét trong túi áo của mỗi ông, ăn ngấu nghiến ngon lành. Xong rồi lẹt xẹt đi ra xe lấy bánh kẹo và nước uống Kim để trong một cái giỏ, nhâm nhi tiếp! Khoa rút thuốc lá ra châm, cả anh Minh nữa, hết điếu này đến điếu khác, ngồi phì phèo, thở vắn, than dài...
Gần sáng, mọi người lục tục kéo nhau về, ai cũng xách bao bị lủ khủ, ai cũng mỏi mệt, bơ phờ, giày bốt dính đầy sình đất, đầy phân ngựa, phân bò! Nhưng ai cũng vui vẻ khoe hôm nay được "mùa", bắt được nhiều cặp trùn đôi đang "ôm nhau", nên mau đầy thùng. Mọi người vui vẻ quay qua hai ông tướng hỏi thăm, rồi sững sờ nhìn vào cái thùng thiếc chỉ có... vài chục con trùn đang ngo-ngoe trong ấy. Tội nghiệp hai ông "sỹ" này quá, mỗi người bèn bốc cho mỗi "sỹ" vài nắm trùn để được đầy thùng mà bỏ vào bao, rồi cũng buộc lại, đi bán như ai!
Khi về đến nhà, Minh và Khoa thật dơ bẩn, hôi thối, người rũ rượi, ngượng nghịu không nói gì cả với Kim, giành nhau cái nhà tắm, rồi lăn đùng chết khò-khò trên giường, mặc cho Kim đi chà giày, giặt giũ, lau nhà, chùi rửa cái phòng tắm thối rình, thối um! Đến khi hai ông vừa thức dậy thì lại nghe anh Ba tài xế phone hỏi "có đi nữa không?"... Nhìn nét mặt buồn thảm của Kim tội nghiệp quá, Minh và Khoa lại quyết định ráng đi thử thêm lần nữa xem sao!
Đêm thứ nhì còn tệ hơn cả đêm đầu! Hai ông tướng đã chọc giận các người đi chung! Anh Minh kể, anh... buồn quá, đến gần mọi người để... nói chuyện phiếm! Có một người đàn bà nói giọng Trung nặng chịch, đã "van xin" hai anh hãy... tránh xa chị ta!
Khi kể lại chuyện này, anh Minh nhại lại giọng chị ấy:
--- "En làm eng đừng đến gèn tui! En lẹt xẹt đến gèn tui, cặch con trùn của tui lẹn xuống đét hết! Tui mèng reng cúm tiền nuôi con tui mô tề?!"
(Em làm ơn đừng đến gần tui! Em lẹt xẹt đến gần tui, các con trùn của tui lặn xuống đất hết! Tui mần răng kiếm tiền nuôi con tui mô tề?!)
Chỉ đi có hai lần thôi, tính tiền ra, Khoa và anh Minh chưa kiếm đủ tiền vốn đèn đuốc đã nhờ anh chị Đức mua giùm! Chuyện hai ông... "sỹ" mới đến định cư và đi bắt trùn này lan rộng trong giới VN ở thành phố Buffalo thật nhanh. Bao nhiêu mơ ước của Kim tan vỡ. Biết làm sao bây giờ? Kim không trách anh Minh và Khoa được, vì hai ông đã là công tử trong gia đình chồng từ xưa đến giờ rồi. Kim quặn thắt cả lòng khi nghĩ đến món nợ hai cây vàng mà mẹ phải gánh cho Kim. Kim đi rồi, đâu còn ai nhồi bột nướng bánh cho mẹ đi bán đây? Làm sao có tiền thăm nuôi ba trong trại học tập?
Thật thương cho Phương, chắc đang chịu không biết bao nhiêu là nhục nhã, khốn khổ để có tiền lo cho lũ em mồ côi và người chồng bệnh hoạn..
*
Gia đình chị Nga ở gần nhà Kim có bốn đứa con gái. Qua đến xứ Mỹ rồi mà vẫn không chưng diện, không son phấn như đa số các người con gái khác. Cả nhà đều ốm trơ da đầu, lại xanh mét, giống y hệt như dân hút xì-ke… Năm mẹ con của chị nổi tiếng là kiện tướng bắt trùn ở thành phố Buffalo này. Mỗi đêm đi bắt trùn, mỗi thành viên nhà chị bắt trên 30 thùng trùn. Đứa Út chỉ mười hai tuổi thôi lại "lượm tiền" nhanh nhất nhà. Tội nghiệp các con gái của chị Nga hết sức, chúng nó tự nguyện đi bắt trùn phụ mẹ lúc 11 giờ đêm, rồi khoảng 3 giờ sáng mới về ngũ vài giờ để đi học. Chị Nga chở chúng về trước rồi chị mới chở trùn đi bán sau.
Kim suy nghĩ trắng đêm sau khi đến thăm gia đình chị Nga về. Nỗi sợ hãi thầm kín trong lòng của Kim không sao lấp được những khoắc-khoải của mình. Kim thử các động tác bắt trùn và thấy không khó khăn gì lắm. Kim quyết định táo bạo: mình sẽ đi "lượm tiền" trước khi cái thai lớn lên! Trước hết, phải làm sao thuyết phục Khoa đồng ý cho Kim được đi bắt trùn trước đã! Kim bèn ngồi chồm hổm lau nhà trước mặt Khoa, cố tình cho Khoa thấy mình rất “bình thường”. Và thật vui, sau khi thỏ thẻ, thuyết phục với Khoa rằng Kim muốn thử đi bắt trùn một lần, Khoa đã đồng ý cho Kim đi thử lần đầu.
Thế là Kim hồi hộp bước lên xe của anh Ba để bắt đầu đi “lượm tiền”. Suốt quảng đường, Kim tập trung ý nghĩ: một con trùn là 5 cents. Năm ngón tay sẽ “lượm” được 20 cents. Mình đi “lượm tiền”, mình cần phải “lượm” nhiều tiền để cho mẹ, cho Phương ngay bây giờ. Khi sanh xong em bé thì sẽ không có cơ hội đi được nữa vì phải đi học, cơm nước, con cái...
Anh tài xế không cần mất thì giờ chỉ dẫn Kim nhiều vì Kim đã "nghiên cứu" trước rồi. Kim vừa xuống xe là đã nhanh nhẹn "nhặt tiền" ngay như dân chuyên nghiệp. Các con trùn ngoan ngoãn theo Kim về nhà mới. Kim chợt nghiệm ra, Kim phải thảy ngay con trùn vào thùng thiếc. Phải thật nhanh tay để con trùn không kịp giãy giụa trên tay Kim, sẽ làm Kim sợ hãi. Thế mà, đã bao phen Kim thét lên, bũn rũn cả người vì chúng nó vùng vẫy, hay vì lỡ tay giật đứt con trùn làm đôi. Phân nữa người của nó quẫy thật kịch liệt trên tay Kim, tiết ra một chất như... máu của chúng.. Thỉnh thoảng, Kim cũng gặp hai con trùn đang "ôm nhau". Kim nhíu nó ra khỏi mặt đất, chúng vẫn quyện với nhau. Chúng nó trơn trợt hơn những con trùn bình thường. Và đặc biệt là chúng nó không vùng vẫy gì cả. Kim bỗng thấy sao mình quá tàn nhẫn, đang phá vở hạnh phúc của chúng nó...
Kim đổi tư thế "làm việc" liên tục, hết đứng lom khom rồi lại ngồi chồm hổm. Hai cái chân có hai cái thùng thiếc quả là vướng víu. Càng về khuya, Kim càng mõi mệt, nước mũi chảy ròng ròng vì lạnh. Cái đầu gối của Kim bắt đầu ướt nhẹp và thật bẩn vì Kim chịu không nổi nữa, Kim bắt đầu bò lê lết. Kim bò lên tất cả những gì dơ dáy nhất ở cái farm bò này, mắt Kim mở thật to, tập trung vào những chỗ nào có nhiều "tiền" nhất đang nhúc nhích, ưỡn ẹo... Chung quanh thật yên lặng. Bóng tối bao trùm, chỉ chừa đúng khoảng đất ngay trước mặt của Kim được chiếu sáng nhờ cái đèn pin.
Bỗng dưng, linh tính Kim cho biết hình như có ai đó đang đứng rình rập sau lưng. Tiếng thở phì phò nho nhỏ.. rồi lớn dần, chứng tỏ người ấy đang tiến đến gần Kim lắm! Tim đập thình-thịch, cố gắng lấy hết can đảm, Kim từ từ quay đầu lại... Ôi trời đất ơi! Con mắt ma thật to và sáng rực trong đêm tối đang quắc mắt nhìn Kim chăm bẳm. Kim thét lên một tiếng hải hùng, rồi ôm bụng bầu cắm đầu cắm cổ chạy thụt mạng... Kim cố chạy nhanh về hướng có ánh sáng đèn pin của một người bắt trùn nào đó. Kim vừa thở hổn hển, vừa đứt quảng giọng kể cho chị ta nghe mình đã thấy ma! Chị ta cười ngất, bảo Kim rằng đó là mắt của... con ngựa! Kim đã đến gần nơi con ngựa đang đứng đó thôi!
Tim Kim vẫn còn đập bình-bình. Kim tiếc cái thùng trùn quá, vì chạy thụt mạng mà trùn đã đỗ ra cả rồi. Kim cố lấy lại bình tĩnh, ôm và xoa-xoa cái bụng tự an ủi mình, lắng nghe đứa con trong bụng của mình có bị gì khác lạ không, rồi lại quỳ xuống bò lê lết để "nhặt tiền" tiếp. Kim lầm lũi trong đêm khuya. Kim nhớ lại hình ảnh của mẹ khóc ngất ngày người ta đến lấy nhà, hình ảnh của con Phương đang bị công an đuổi bắt, đang kiếm tiền nhục nhã trên đường phố... Bỗng dưng Kim hết cả đau lưng và mõi mệt. Thoăn thoắt tay nhặt trùn, miệng Kim đếm lẩm nhẩm như tụng kinh: này 20, 40 xu, này 20, 40 xu…
Khoảng hơn 4 giờ sáng, mọi người rã rời ra xe để chuẩn bị về. Kim đi gom lại các bao trùn. Kim có bảy bao tất cả. Mọi người khen Kim giỏi và khuyến khích Kim rất nhiều. Kim phờ phạc theo họ đi bán trùn. Những con trùn này được bán cho dân câu cá mua về làm mồi. Cả người của Kim kiệt quệ thảm thương. Kim về nhà tắm rửa, kỳ cọ, giặt giũ cả tiếng đồng hồ rồi mới rón rén lên giường, cố gắng tươi cười, đóng kịch với Khoa rằng mình rất…”bình thường” để ngày mai được đi bắt trùn tiếp tục...
Thế là những con trùn cứ theo Kim những hôm sau. Chúng vươn cái thân người lên để hít thở không khí tự do trong lành, không biết tai họa đang rình rập. Những con trùn cũng theo Kim từ ở farm về tận nhà, về trong từng giấc ngủ, từng đêm khuya. Hể nhắm mắt lại ngủ là những con trùn màu nâu đỏ cứ xuất hiện lúc nhúc trong con mắt của Kim. Chúng bò lổn-ngổn thật kinh khiếp ngay màng đen con mắt, nhất định không tha Kim vì Kim đã kết liễu cuộc sống của chúng... Kim không dám nhắm mắt ngủ nên bị mất ngủ thật trầm trọng. Kim không biết phải làm sao để những con trùn đó đừng hiện về trong màng con mắt nữa, người Kim hốc hác và cặp mắt to sâu lại càng to hơn, hun-hút hơn... Khi đi bác sỹ, bác sỹ bảo vì Kim quá tập trung nhìn vào những con trùn nên mới bị như thế.
Kim đành bỏ hẳn không đi bắt trùn nữa sau khi gắng đi trọn mùa trùn năm ấy. Dù đã bỏ không đi bắt trùn nữa, mà những con trùn trong màng con mắt vẫn theo Kim cho đến vài tháng sau. Những lần cuối, Kim bắt nhanh gấp đôi. Rồi Kim gửi tiền về ngay cho mẹ, cho Phương.. Đêm mà Phương lần đầu tiên nhận tiền Kim gửi, hởi ôi.. cũng là đêm cuối cùng Phương còn hơi thở ở cõi trần, miệng nở nụ cười thật sung sướng vì sờ được, nắm được những tờ đô la Mỹ đầy quyền lực trong tay, như nhận một tia sáng hy vọng cho mạng sống treo mành.....
Kim tới thăm chị Nga sau đó vài năm, thật ngạc nhiên khi thấy gia đình của chị đã thay đổi khác hẳn. Bốn đứa con gái của chị bấy giờ mới ăn mặc tươm tất, trang nhã và xinh xắn. Một đứa đã tốt nghiệp đại học, nhưng đang tiếp tục học lên lấy M.D. Một đứa đang hành nghề Dược sỹ, có tiệm thuốc tây rất lớn. Còn hai cháu nhỏ vẫn đang học đại học và trung học. Chồng của chị cũng đã được bảo lãnh sang sum họp sau khi ra khỏi tù Cộng Sản. Chị nói:
-- Em biết không, chị cũng kiếm tiền được lắm đó chứ! Nhưng gia đình ở bên VN nghèo khổ quá, chị gửi tiền về cho ba má chị cất lại cái nhà ở mé sông gần sụm bà chè! Chị cũng cơi lầu cái nhà của cô em chồng, đã thay chị nuôi anh cực khổ bao nhiêu năm trong tù. Còn thằng em trai là thương phế binh, chị phải nuôi nó mổi tháng vài trăm đô. Chị bèn gửi về cho nó liền tù tì $20,000 để vợ chồng nó mua bán máy đuôi tôm, mà nào ngờ tụi nó thành công quá. Mấy đứa con của nó cũng muốn nối gót. Chị lại gửi tiếp thêm cho tụi nó có vốn mà làm ăn, chứ con của lính nguỵ mà em, có học giỏi cách mấy cũng bị đánh rớt ngay từ khi mới điền đơn dự thi, sao ngóc đầu lên nỗi với đám Cộng Sản? Rồi chị phải nuôi các cháu ở đây ăn học… Cái xứ Mỹ này, ăn ngày có nắm gạo thôi mà cũng hồng hào tròn quay... Chị chỉ tốn tiền để đầu tư cho con của chị được học hành thành đạt, không tủi hổ là người Việt Nam nơi xứ người là anh chị vui lắm rồi…
Cặp mắt của chị bỗng đỏ hoe:
--Nhờ mấy con trùn Mỹ này mà gia đình của chị mới thoát cơn bĩ cực, mới tạo dựng được tương lai cho gia đình ở VN và gia đình ở tại đây đó em.
Chị quẹt nước mắt, nói tiếp:
-- Hừm! Nhiều khi ngồi tự hỏi, nếu không đến được đất nước này, thì đại gia đình của chị sẽ sống ra sao ở VN hả em? Làm sao có được ngày hôm nay đây hả em?!
*
Trời lại vào Xuân hôm nay. Kim xới đất tơi lên nhè nhẹ vì sợ những con trùn lại bị đứt ngang người. Gia đình của Kim vẫn thường khoe với mọi người tánh mạnh mẽ của Kim thể hiện qua việc đi bắt trùn khi xưa. Đâu ai biết rằng, sau cái bề ngoài mạnh mẽ ấy, chỉ là một trái tim nhỏ bé của một phụ nữ Việt Nam yếu ớt, nhạy cảm. Cho đến bây giờ, mỗi lần nhìn thấy những con trùn đất, Kim vẫn giật thót mình, vẫn sợ điếng cả người, rồi cố nén nỗi niềm xuống tận sâu thẳm của đáy lòng.
Ôi! Thương thay những con trùn đất xứ người..
Kim Chi

Monday, December 7, 2020

WOMAN IN DARKNESS

 December 7, 2016 


WOMAN AND DARKNESS...WOMAN IN DARKNESS:
How would one paint darkness? Especially when one has only five minutes to spare? Here is another of my five-minute creation.
Does darkness mean all black? Painters know that there are hundreds of black shades and hundreds of white shades...I think darkness has colors. So, here is how I painted darkness, from the perspective of a woman sitting in the dark, or immerging herself in it. So her face is the color of a sombre shadow. The Vietnamese verses describe her mood (translation: "I am my own darkness, my sombre green...Loyalty or betrayal? All from the same spleen...").
The joy of impromptu raw art is the envisioning of a backdrop. I created a cheerful backdrop for these verses of sombreness, with lots of pink.
1) Woman and darkness UND C 2010, 2016 enamel and markers on grained paper
2) verses of sombreness in Vietnamese UND C2016 markers enamel and pastel on thin paper
3) variations with digital inversion and color infusion UND C 2020











Thursday, December 3, 2020

in commemoration of my mother -- dec. 2 2018

 here is the "near-perfect doll" -- my mother's product: 

My mother directed the photoshoot in Hue, and look: the "doll" has two bracelets on...



Wednesday, December 2, 2020

IN HONOR OF OLD AGE AND VIETNAMESE PARENTAL CARE

 It is with honor that I circulate this story about Vietnamese parental care and old age. With poignant humor, the author related his experience of "baby-sitting" his 100+year-old father. The author is very lucky not to run into the real tragedy of cultural collapse in the context of parental care, which brings out the worst in human beings.  

The story was written in Vietnamese.  It is lovely.  It reminds me of my father, who is from northern Vietnam, sharing the same speech pattern as the character in this story. 

How lucky yet unlucky my father was, compared to the old gentleman in this story. 

wnd 12 2 2020

MỘT NGÀY VỚI TUỔI TRĂM NĂM
(04/12/2013)
Tác giả : Cao Đắc Vinh
Tác giả là một kỹ sư hồi hưu, đã sống 25 năm bên Pháp, 25 năm ở Mỹ, hiện cư ngụ tại Irvine cùng gia đình. Sau đây là bài viết về nước Mỹ thứ tư của ông.
—-
Bố tôi là cụ già đang sống trên tuổi trăm năm.
Cụ bình an ở cõi trần 103 năm tính đến năm nay Quý Tỵ 2013. Con số tuổi thọ của Cụ tiếp tục cao giống như lời chúc mọi người thường tặng nhau mỗi khi Tết đến, xuân về.
Bố tôi vẫn ăn được, ngủ được nên gọi Cụ là "Tiên giáng trần" theo như câu vè lưu truyền trong dân gian: "Ăn được ngủ được là tiên, không ăn không ngủ mất tiền thêm lo..." nhưng thực tế, Cụ vẫn là "người" nên chẳng thể nào tránh khỏi cái chân lý sinh lão bệnh... của kiếp ba sinh. Một người già sống đến trăm tuổi nếu còn khỏe mạnh thì cũng chẳng khác cỗ xe cũ là mấy! Động cơ hao mòn, lúc chạy lúc ngừng tùy theo thời tiết nắng mưa... Bố tôi cũng đang bước qua chiếc cầu khổ đau của bệnh tật và thường hay than thân trách phận: "Đoạn trường ai có qua cầu mới hay!"
Sống trăm tuổi chắc chắn bệnh tật phải xếp hàng chờ đợi, không nặng thì nhẹ... Có điều là ở đời, nếu ai may mắn ít bệnh nan y lại hay tạo ra cảnh "Nhà giầu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột". Bố tôi chẳng phải ngoại lệ! Mỗi khi trời buồn đổ mưa, cho dù thuốc men đầy đủ, con cái cũng vẫn nghe tiếng Cụ rên rả rích như tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái nhà! Cụ không còn đủ sức tự chế để an hưởng phúc lợi mà trời ban riêng cho mình ở tuổi "bách niên," có lẽ vì ít thấy cảnh khổ của kẻ khác nên hay bực dọc với bất cứ bất an nhỏ bé nào đến với mình.
Quan sát tuổi già của Bố, tôi nghiệm thấy một sự thật đơn giản là con người ngoài số mệnh sẵn có, sống thọ và ít đau yếu còn nhờ vào sức mạnh miễn nhiễm của cơ thể. Qua bao chu kỳ bốn mùa, hết xuân lại vào thu với dị ứng, cảm cúm rình rập, Bố tôi chẳng lần nào chích ngừa mà vẫn khỏe, vi khuẩn vô tình xâm nhập tấm thân già ấy cũng phải tàn lụi vì hợp chất kháng thể. Mùa đông vừa qua, bệnh cúm hoành hành khắp các tiểu bang... Tôi đến thăm vào một buổi trưa, bàng hoàng thấy Cụ lâm trọng bệnh. Cụ ngồi ở "sofa", cặp mắt cá ươn lạc mất hồn, mê man nên không than thân như thường lệ! Ói mửa trên người, nước mũi chẩy xuống áo quần, hơi thở nghẹt vì đờm trong cổ làm cả nhà sợ hãi. Anh cả lên tiếng phiền hà em lơ đãng quên chích ngừa cho Bố, em trách anh biết lo xa, thế mà lơ là chẳng giúp? Bác sĩ khám bệnh và kê thuốc ho qua loa, ngạc nhiên chỉ một tuần sau, Cụ bình phục rồi những lúc sảng khoái lại líu lo như chim xuân đang về.
Rượu mạnh Cognac, Whisky... hết còn thích hợp với sức khỏe của Cụ nhưng thỉnh thoảng ăn miếng thịt bò cơm Tây hay "seafood" cơm Tầu thì vẫn nhâm nhi một ly vang đỏ. Bạn bè Cụ đa số đã ra người thiên cổ chỉ còn vài ông bạn già tuổi kém gần thập niên hay một con giáp. Ở tiệm ăn, có người nhận ra Cụ, vui mừng đến chào hỏi nhưng bẽ bàng vì Cụ dửng dưng không còn nhớ kỷ niệm nào với họ...
Tiên sinh Tú Xương một thời đã than, "Một trà, một rượu, một đàn bà. Ba cái lăng nhăng nó quấy ta! Bỏ được thứ nào hay thứ đó..." Bố tôi thì chẳng muốn bỏ thứ nào cả nhưng hoàn cảnh ở Mỹ bây giờ hấp dẫn chỉ còn mỗi mục "trà" nên đành phải lấy cà phê, thuốc lá làm thú giải khuây. Ngồi buồn một mình, Cụ đốt liên tu bất tận, một ngày một bao thuốc như chơi và phân trần khói thuốc hút vào lại thổi ra như còi tầu, có nuốt vào phổi đâu mà sợ độc hại? Nếu tôi cắt nghĩa về ảnh hưởng của khói thuốc đối với con cháu trong nhà thì Cụ nghĩ tôi gây chuyện làm khó rồi lẳng lặng vào phòng đóng cửa hút, khói bay mù mịt. Cụ uống cà phê đen có đường thay nước! Mỗi ngày hai ba lần, tôi pha từng đợt để giữ mùi thơm và độ nóng rồi mang ra "patio" chỗ Cụ ngồi cùng với vài điếu thuốc lá. Hút xong là hết cho ngày hôm đó, mục đích hạn chế liều lượng và kiểm soát Cụ thì mới yên ổn sống chung được...
Bữa ăn ngon lành nhất của Cụ là "phở gà phao câu" hay "hủ tiú sa tế". Ăn "steak" thì có Norm s Restaurant trên đại lộ Beach nhưng phải chờ thứ sáu đặc biệt có món súp "clam chowder" mà Cụ thích! Nói chung, Cụ chỉ chuộng những món thuộc loại "kinh dị" chẳng hạn sa tế có nước dừa kẻ thù của cao mỡ, "clam chowder" có "cream" mà người Mỹ thường phải bỏ bớt % "fat" và cuối cùng là cái của quý "nhất phao câu nhì đầu cánh" vì cục mỡ vàng ở đuôi con gà... Hôm nay Cụ đã ăn món này thì mai ăn món kia. Đi không vững, phải dìu từng bước nhưng tính thích đi chơi nên nếu biết sẽ được đến những nơi ấy thì bỗng nhiên Cụ trở thành "em bé" dễ bảo. Do đó tôi thường dùng "chiêu" này để "dụ" Cụ đi tắm, thay tã và quần áo vào buổi sáng đến chăm sóc.
"Cơm hàng, cháo chợ" ăn quen đến nỗi, vừa đến cửa tiệm phở Quang Trung hay hủ tiếu Triều Châu là đã nghe mấy cô cậu làm việc ở đấy kháo nhau ầm ĩ khi hai cha con tôi khập khiễng bước vào: "Bố đến! Phao câu bánh tươi hành trần..." Những người trẻ ấy, lứa tuổi cháu chắt của Cụ nhưng sống bên Mỹ lâu năm, ít nhiều đã quên phép tắc thưa gởi đúng đắn nên chúng tôi chỉ biết cười xòa, miễn sao vui cửa vui nhà và nếu vui cả bà con cửa tiệm thì... càng vui hơn.
Hôm nào ngon miệng, Cụ có thể ăn hết tô phở nhỏ, tay cầm từng miếng phao câu da vàng mỡ, nhai chậm rãi rồi lọc ra cục xương nhỏ, cả thẩy là 7, 8 cái "đít" gà... có khi bùi béo quá, vô ý Bố rớt cả hàm răng giả ra ngoài! Tôi nhìn quanh, lo cho những người ngồi gần bàn mình, thấy cảnh ít thẩm mỹ này sợ họ ăn mất ngon nhưng chẳng ai để ý và phiền trách một cụ già. Biết Bố còn thích ăn tiệm nên buổi trưa nào gặp nhau, dù có vất vả tôi cũng coi như bổn phận, vui vẻ dắt Cụ cùng đi.
Tuổi già xương yếu, đi đứng khó khăn nên Cụ ngồi nhiều sinh ra chứng bệnh táo bón. Cằn nhằn mãi mà vẫn chưa tiêu, uống 2 viên thuốc nhuận tràng "Bisacodyl" không thấm, tự động Cụ lấy thêm 3 viên nữa... Kết quả là tiêu chẩy tung tóe từ phòng vệ sinh đến phòng ngủ và mấy chị em tôi phải giặt giũ, dọn dẹp nửa ngày chưa xong!
Mặc dù phải dắt Cụ từng bước vì lỡ té ngã thì khổ cả nhà nhưng mỗi khi thấy quý bà đến gần hỏi thăm là Cụ tự ý chống gậy đứng một mình, tay đút túi quần ra cái điều vẫn "ngon lành", còn "gân", độc lập, tự chủ không cần ai. Trò chuyện qua loa, các bà thường hay ban tiếng khen vô thưởng vô phạt, Bố tôi tức thì nhăn mặt đáp lễ với lời than thở: "Dạo này, yếu lắm không khỏe!". Tuổi già đau nhức kinh niên, "ỉ ôi" mong đợi sự cảm thông chia sẻ của quý bà.
Chuyện "lấy le" nhỏ như "con thỏ" ấy đôi khi thành to trên đường phố xứ người, gây ra nhiều hiểu lầm với dân Mỹ sẵn bản tính trọng đãi người già! Ở những chốn ăn chơi như Las Vegas, Big Bear... Cụ muốn chống gậy khập khiễng đi một mình một phố, "complet" "cravate" đầy đủ chỉ cần phong độ và dáng dấp "ngầu" thuở xưa nữa là xong! Cứ "lê" một bước, Cụ lại đứng nhìn... Tôi cũng phải "lết" theo Cụ canh chừng. Mỗi lần thấy Cụ chậm chạp quá! Tội nghiệp tôi lại gần khoác tay, dắt Bố để cha con cùng đi bên nhau thủ thỉ cho ngày dài thêm ý nghĩa thì Cụ đuổi thẳng thừng: "Đi, đi! Cứ đi trước đi! Ông để mặc tôi..." nhưng đi trước là đi đâu? Thành ra hai cha con cứ đứng giữa đường, kẻ trước người sau ngơ ngác lo cho nhau như đang diễn tuồng! Khách bộ hành không quen cảnh tượng ấy, ái ngại nhìn hai người như muốn hỏi: "Whats going on?". Cuối cùng, có ông Mỹ cả nể đến gần hỏi han thì Cụ "nể cả" với nụ cười "ngoại giao" ròn tan, lịch sự líu lo "xổ" tiếng "Phú lang xa" và lẽ dĩ nhiên, tiếng Mỹ tiếng Pháp loạn xạ, chẳng ai hiểu ai rồi ngượng ngùng "Oui Monsieur", "Bye Bye" đường ai nấy đi! Lúc đó, tôi chỉ thấy chán nản vì bất lực... Bố con đi chơi chẳng vui mà như mắc nợ, hành tội nhau khổ sở. Tính tình như thế nên Cụ không bao giờ thích ngồi xe lăn, lần nào mang xe đi cũng lại vác về ngoại trừ những chuyến đi chơi xa, miễn cưỡng chẳng đặng đừng, Cụ mới chịu "lép vế" an tọa, chờ người đẩy.
"Bách niên" sống lão thì nhân sinh lại quay về điểm khởi đầu nên thân già co cụm trong tâm hồn trẻ thơ là chuyện thường tình. Trời cho Cụ bản chất lạc quan, sức khỏe đặc biệt hơn người cho nên cản trở lớn nhất của Bố tôi đối với gia đình là tính kiêu căng vẫn còn sót ở tuổi già đang quay lại thời "tuổi thơ": giỏi nhất, kinh nghiệm nhất, thông minh nhất, đội đá vá trời... chỉ vì cái tự cao "chủ nghĩa" lẩm cẩm. Bề ngoài giao tế tỏ vẻ "trịch thượng" nhưng nếu tự vấn lòng, khó ai biết sự thật Cụ nghĩ gì? Ai lỡ yêu thương, vồn vã chăm sóc thì Cụ làm cao, "ăn hiếp" đến "tắt thở" rồi cuối cùng phải dùng đến "đòn phép" mới được yên thân và ngược lại, đứa con nào thờ ơ, không để ý đến Cụ cũng phải nghe phiền trách mỗi khi giáp mặt.
Bên cạnh Bố, tôi thường nghe Cụ than, "Lạ nhỉ! Suốt đời, tôi có ăn ở tệ bạc với ai đâu mà chúng nó đối xử như người dưng nước lã..." nhưng thực tế, từng ấy người con mỗi đứa một tính giống như bàn tay có ngón dài ngón ngắn. Cụ nghĩ đến "ngón ngắn" vì "thiếu thốn" nên ưu tiên lưu ý đứa "ghét" Cụ hoặc chẳng may bị Cụ ghét, còn đứa thương ví như "ngón dài" đã "đầy đủ" thì Cụ thờ ơ, ít để tâm suy nghĩ. Nói cho cùng, nếu ai lỡ "ghét" cũng do tính tình khó khăn của Cụ vì mỗi lúc không đúng ý là Cụ la mắng và giận hờn nên đa số chán nản, tránh xa phiền muộn do Cụ gây nên để tìm sự bình yên cho riêng mình.
Bố tôi tuổi Thân đã qua hơn 8 lần con giáp! Theo tử vi, bản tính tự cao, tự đại một phần do cái số cầm tinh con khỉ (?). Xin lỗi người tuổi Thân... Tôi nêu ý nghĩ ấy bởi vì đôi lần muốn tìm lại một nơi chốn cũ, Cụ ngồi trên xe vẫn dõng dạc chỉ đường cho tôi nhưng đường nào thì cũng chỉ là bánh vẽ của một ký ức "mù mịt khói sương"...
- "Đi lối này gần! Ông đi lối kia vòng co tam quốc, mất thì giờ chẳng ăn thua mẹ gì, chán quá! Cứ theo tôi. Đấy đấy..." Nghe theo cái "GPS" "cảm tính" kém chính xác của Bố, lái xe quẹo Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc loạn xạ cho nên lần nào xe cũng từ từ đi vào ngõ cụt... Đến khi bí quá thì lại nghe Cụ "phán":
- "Quái lạ! Bây giờ nó sửa đường và xây cao ốc tối tân không còn nhận ra ất giáp gì nữa cả?".
Nhiều lúc tôi phát điên, trả lời Cụ:
- "Bố ơi! Nhà mình có phước hay vô phước hả Bố? Người ta nói: con hơn cha là nhà có phúc mà Bố cứ nhất định đòi giỏi hơn con thì gia đình mình đến thời mạt rệp... à?"
Tuy nói thế, nhưng tôi hiểu mọi sự trên đời đều là hình ảnh một đồng tiền hai mặt, úp và ngửa, có trái thì có phải, cái "phải" nằm sẵn trong cái "trái"... Dù tuổi già "ba hoa", Cụ đã tạo chút không khí ngang ngạnh đáng tiếc nhưng xét kỹ... lại vui vì đó chính là giờ phút hạnh phúc mỗi lúc Bố con gặp nhau. Cụ khỏe mới đi chơi, thể lực mạnh mới xông xáo bầy tỏ đôi ba chuyện "hoang tưởng" vu vơ! So sánh còn thấy hạnh phúc hơn nhiều những lần khác, ốm đau Cụ nằm một chỗ, co rúm im lìm trên giường thì gia đình còn khổ và lo âu đến chừng nào!
Tính tình Bố tôi ở tuổi này thay đổi từng giờ, đang vui đã giận và chưa giận đã cười. Vì thế sống gần Cụ, nên hiểu tâm trạng ấy và đừng để "stress" họa vào thân. Đó là kinh nghiệm đáng ghi nhớ của tôi vì lúc đầu chưa biết rõ hoàn cảnh, tôi đã trải qua giai đoạn thật vất vả lao đao!
Dù sao, cảnh đời cô đơn của Bố cũng rất đáng thương! Mọi sinh hoạt như ngừng lại từ lúc các bạn cố tri lần lượt ra đi và Cụ tiếp tục sống trong tuổi già quên lãng. Ngày ngày, tuy có người trông coi nhưng Cụ vẫn thân một mình, ngồi tự vấn sự đời vẩn vơ... Chờ đợi mòn mỏi đứa con nào đoái thương thân già, thăm hỏi rồi dắt đi ăn uống là một ngày vui ngắn ngủi vì dưới mắt Cụ thời gian hội ngộ luôn qua nhanh. Giờ phút chia tay lần nào cũng nghẹn ngào! Tôi thường phải nói dối Cụ đi làm "ca" đêm để về với vợ con và lại nghe câu hỏi quen thuộc: "Mấy giờ về... để tôi đợi?". Bố hẹn con tái ngộ ngày mai nhưng ngày mai nào ai biết sẽ đến hay không? Chẳng may có thể là lần cuối (?)! Hai Bố con lặng nhìn nhau lưu luyến như bóng chiều ngập ngừng sắp trôi vào giữa bóng đêm...
Ý thức ngày vĩnh biệt không tránh khỏi nên mấy năm gần đây, tôi đã thu gọn đời sống để tận hưởng niềm vui mong manh bên cạnh người Bố già. Tự nhủ lòng những ngày vui qua mau và giây phút cuối đang đến gần! Cố gắng sống trọn yêu thương với đạo lý hôm nay để lòng thản nhiên trước cảnh tử biệt sinh ly ngày mai... Nếu phải nghìn trùng xa cách từ đây, Bố con sẽ nhìn nhau "an phận" không tiếc nuối như ngày tiễn Mẹ ra đi.
Giống tôi lúc xưa còn bé, đi đâu bây giờ Bố cũng muốn theo vì cuộc đời Cụ cô đơn, lẻ loi và chẳng còn nhiều ý nghĩa! Kỷ niệm những mùa hè, Bố và tôi sống bên nhau trong ngôi nhà miền núi giữa đồi thông... Quên sao được con đường chiều dạo quanh bờ hồ Big Bear, chúng tôi dìu nhau đi giữa cảnh hoàng hôn, mặt hồ chiếu rọi tất cả bầu trời nắng quái vàng cam mang chung ý nghĩa về tính vô thường của một kiếp người: mới hôm nao Bố giúp con vào đời thế mà hôm nay, cả hai đã già cùng sống trong một thành phố xa lạ miền cao nguyên, ảm đạm chẳng khác gì cảnh chiều tắt nắng trên mặt hồ...
Những nơi chúng tôi đã đi qua, khách thập phương thường tỏ sự ngạc nhiên về Cụ. Người Mỹ, người Pháp, Nhật, Đại Hàn... đều ngừng lại thăm hỏi và ngưỡng mộ về lối sống của Bố tôi vì ít ai ở tuổi "bách niên" mà còn lom khom đi lại, ăn uống trên đường phố ở chốn phồn hoa đô hội. Ngày nào, nếu Quý vị thấy một cụ già chống gậy, lưng còng, nắm tay một người trẻ đi vào một nhà hàng trên đại lộ Bolsa thì nhiều phần chính là Bố tôi đó. "Sau này... sẽ nhớ mãi những giờ phút này!" Đó là lời bà Bùi Bích Hà, một nhà tư vấn tâm lý nổi tiếng của Việt Nam nói với tôi đã lâu.
Sống với Cụ thân sinh thọ trăm tuổi, tôi lĩnh hội được nhiều điều hay để biết ơn và sửa đổi. Sinh ra vào đầu thế kỷ 20 nên nhân sinh quan của Cụ nhiều phần khác với thời đại hôm nay chẳng hạn quan điểm về hôn nhân, dân chủ hay câu nói "nhi nữ tình trường, anh hùng khí đoản" đối với gia đình, xã hội... Đã là người thì "nhân vô thập toàn" sẵn mang những khuyết điểm, đáng quý là biết nhận ra mà tránh được. Cha con sinh ra cùng một dòng giống nên bản chất hay tính tình là cái di sản "đồng lần"... Sống bên cạnh Bố, tôi thường suy tư vai trò làm cha đối với các con tôi để tự sửa đổi chẳng hạn tính nóng giận, lạc quan vô cớ và cố quên cái "ta" chấp ngã... Tôi cảm ơn người di truyền sang gia đình tôi cái "gen" khỏe mạnh "vượt thời gian và không gian", lòng trắc ẩn, tính vị tha mau quên và một tâm hồn nghệ sĩ nặng tình dân tộc...
Suy ngẫm chân lý của người xưa: "Anh em kiến giả nhất phận" đến khi sống chung với các đấng sinh thành trời cho tuổi thọ, chúng ta còn nhận rõ một sự thật không mấy vẻ vang! Anh chị em một nhà khi khôn lớn, tình nghĩa đổi thay bất ngờ... Với cha mẹ già cần chăm sóc là một nhiệm vụ, vừa thiêng liêng vừa khó khăn nên câu ca dao "Thức khuya mới biết đêm dài, ở lâu mới biết lòng người thực hư" đã giúp hiểu rõ tính nết của từng người: có anh ích kỷ, có chị lợi dụng, có em ỷ lại... hoặc người này tốt, kẻ kia xấu minh bạch như ban ngày. Những lời rao giảng cao đẹp chẳng hạn: đoàn kết, vị tha, công bằng bác ái... mãi mãi nằm yên trong sách vở. Con nào cũng yêu thương cha mẹ nhưng qua miệng lưỡi thường bầy tỏ hơn 7 lần nên khi hành động chỉ còn 3...
Thuở mới di cư sang Mỹ, cạnh nhà tôi có ông hàng xóm tuổi trung niên khi xưa là đại úy cảnh sát. Qua lại thân thiết nên chúng tôi mời ông sang dự bữa tiệc sinh nhật đứa con đầu lòng. Tình cờ gặp bố tôi, ông nhớ đến bố ông, mừng tủi như sắp khóc rồi đứng giữa nhà bếp, trước bàn ăn đông đủ mọi người, cảm động ông phát biểu:
- "Anh chị may mắn quá! Ráng mà hưởng phúc đức... Bố tôi nếu còn sống mà ngồi "i.." ngay giữa nhà này một bãi, tôi cũng vui sướng hốt chùi không la lối hay than phiền lời nào..."
- "Vâng... giữa sàn "nhà" tôi (!) và chỉ "một lần" thôi nên ông nói vậy!". Nghĩ cho vui nhưng không nói ra vì tôi tin là ông đã trình bầy sự thật của lòng mình theo cảm hứng vào thời điểm đó. Tiếc thay, sự việc sẽ mất tính "cao thượng" khi thêm vào hai yếu tố: nhân bản và luận lý. Đây là trường hợp tiêu biểu "nói dễ làm khó" bởi vì nếu mỗi lúc, mỗi ngày rồi mỗi tháng bố ông "hành hạ" ông kiểu này thì ý kiến ấy sẽ không còn vững bền. Chẳng bao lâu, vài năm sau đó, tôi không biết buồn hay vui khi nghe tin ông hàng xóm đã sớm quy tiên và gặp lại bố ông ở cõi thiên đàng...
Mỗi tuần, tôi lãnh phân vụ trông coi Bố tôi 2 buổi từ sáng đến chiều nên dù hưu trí đã 2 năm nay, tôi cũng chưa dám phác họa một chuyến du lịch xa. Hôm nay, xin ghi lại mẩu đối thoại ngắn như kỷ niệm của Bố con tôi qua câu chuyện: "Một Ngày Với Tuổi Trăm Năm".
1.
- Chào Bố! Con mới "đi làm" về. Bây giờ 9 giờ rưỡi sáng, Cụ ngủ dậy hôm nay có khỏe không?
- Khỏe cái gì mà khỏe cơ chứ! Ông không biết à? Nó bảo tôi mặc quần áo để đi Sơn Tây, ra đây ngồi đợi mãi. Nó lừa... đi mất rồi!
- Bố ơi! Bố phải để chị ấy "đi làm" chứ! Bố cứ đòi theo thì họ phải nói dối... Nếu Bố muốn lúc nào cũng có bạn bên cạnh thì phải chấp nhận vào ở trong viện dưỡng lão thôi! Hôm nay có con ở với Bố nè...
- Thôi thôi... đừng nói nữa, cảm ơn ông! Tôi biết các ông bà tốt với tôi lắm rồi! Cá mè một lứa... cả đám.
2.
- Hôm nay, Bố muốn ăn gì nào?
- Ăn gì cũng được! Ăn cho no chứ béo bở, ngon lành gì mà cứ hỏi mãi...
- Ok! Vậy thì bánh mì Cali hay bánh cuốn Tân Hồng Mai nào.
- Bánh mì chỉ có ông ăn chứ tôi nhai sao được! Răng đâu mà nhai? Bánh cuốn tôi ăn rồi... khô lắm! Tôi phải có cái gì lỏng... mới dễ tiêu.
- Thế tại sao Bố bảo ăn ở đâu cũng được? Vậy thì "phở gà phao câu" được không?
- Đâu cũng được! Phở gà ăn ở cái tiệm cũ kia! Tôi quen ở đó... Chỗ mới bây giờ làm tồi lắm...
- Lần trước Bố vừa khen, thế mà... lại chê rồi! Không sao... Bố muốn đi đâu mình đi đó.
3.
- Thôi bây giờ mình đi tắm, thay quần áo rồi Bố con đi ăn phở nhớ...
- Tôi vừa tắm xong! Đây này, áo quần vừa thay... mới cả! Có gì mà phải thay mãi thế?
- Mới tắm mà sao "khai" thế này? Bố không tắm thì mình không đi...
- Ông chờ tôi nhớ! Đừng đi như "con" kia...
- Con ở đây tắm cho Bố mà... Làm sao Bố tắm một mình được?
- Ông cẩn thận cái áo này của tôi... nó có tiền! Vô ý là hết cả... Sơn Tây.
- Đây! Con treo trước mặt cho Bố thấy... Không ai vào lấy... Thấy chưa? Yên tâm nhé!
- Không ai lấy! Hừ... Mất hết cả rồi mà ông còn nói... không ai lấy! Mất trâu rồi mới lo làm chuồng... Chán quá!
4.
- Sao Bố ăn phở gà hôm nay có ngon và no không?
- Ngon? Ăn mà không ngon thì ăn làm gì? Hỏi vớ vẩn, hừ... No! Đã ăn tiệm thì phải no chứ... lại còn đói à?
- Bây giờ cà phê nhá!
- Cà phê chứ còn gì nữa... Ông ngừng mua bao thuốc lá cái đã. Hết rồi!
- Còn mà! Con vẫn còn nửa bao nhưng Bố chỉ hút hai điếu thôi nhé!
- "Uẩy"! Cho bao nhiêu thì hút bấy nhiêu. Miễn có hút là được.
- Bây giờ vào nhà con pha cà phê, ngồi ngoài "patio" uống cà phê hút thuốc. Ấy... Bố đi đâu vậy?
- Tôi ghi số xe để ngày mai khi cần tôi "gọi" cho ông chứ nếu không lại đói... chẳng có đứa nào chở đi ăn. Viết cho tôi số... May mà có ông thương thân già này nên còn giúp đỡ tôi.
- Bố lộn rồi! Số téléphone chứ không phải số xe. Vào nhà con ghi cho...
5.
- Sao Bố buồn vậy? Ngủ một giấc trưa đi... cho khỏe.
- Tôi thấy đời vô nghĩa, không muốn sống nữa! Phiền hết con cái... Hôm qua, xin nó hai viên thuốc, bảo uống rồi mai không dậy nữa... thế rồi chắc liều lượng nhẹ quá, chẳng ăn thua mẹ gì! Sáng nay vẫn chưa chết...
- Thế Bố còn muốn đi Sơn Tây không?
- Muốn lắm chứ! Chỉ có 2 tiếng ngồi xe lửa là đến nơi mà không đứa nào nó dắt đi. Con với cái... Khổ cái thân già này! Nó hứa nhăng hứa cuội nhưng tôi có cách... "Moa" bàn với "toa" chuyện quan trọng này nhớ! "Moa" cần 2 ngàn để đi về Sơn Tây. Đến nơi rồi "moa" sẽ trả lại.
- "Toa" trả "moa" bằng cách nào?
- Mấy bữa nay, "moa" nghĩ ra cách kiếm tiền rồi! "Moa" về Sơn Tây mở lớp dậy tiếng Pháp cho người ta học... Thế nào cũng có nhiều "sìn".
- Bây giờ tiếng Anh chứ có ai nói tiếng Pháp nữa đâu Bố ơi là Bố!
- Thế thì tôi về Hà Nội... lại làm giây thép Bưu Điện vậy.
- Bố già lụ khụ... đi không vững! Ai còn muốn mướn Bố.
- Già? Hừ... Đói thì cũng phải cong đít mà làm chứ ai nuôi?
6.
- Nếu có ai dắt Bố về Sơn Tây thì con mới cho Bố mượn tiền. Bố không đi một mình được! Hơn nữa đi xe lửa không bao giờ đến! Bố phải đi máy bay, Bố quên rồi à?
- Sao lại không được! Xưa nay tôi vẫn một mình chứ hai mình bao giờ? Đi xe lửa mà lại... Hừ... Ai bảo ông thế! Người ta vẫn đi hàng ngày mà nói láo... Chỉ nói láo là giỏi! Hay là ông không muốn cho tôi mượn tiền nên ông nói nhăng nói quậy? Thôi... Tôi hiểu ông rồi! Thân già này chẳng còn nhờ cậy ai được. Con với cái... Đồ mất dậy!
- Ấy chết, sao Bố lại nói con thế! Chán thật...
- Ông chán tôi từ lâu rồi chứ có phải bây giờ đâu?
- Thôi con đi làm nhớ!
- Vâng! Ông đi... Mấy giờ về?
- Con không về nữa vì Bố chửi con rồi...
- Tôi chửi ông hồi nào? Ông chửi tôi thì có! Chỉ giỏi ăn hiếp người già!
Bố tôi nói thế rồi quên ngay và ngày mai câu chuyện lại tiếp tục với những cuộc đối thoại vui buồn không dứt! Có tính mau quên và chẳng coi ai là kẻ thù nên vì thế Cụ sống lâu chăng? Dù sự ăn uống chút phần khả quan nhưng tinh thần của Bố tôi cũng đã suy sụp nhiều so với năm ngoái! Chân đi không vững và đầu óc hoang tưởng, vui buồn bất thường... Như đã nói ở phần trên, người già không mắc phải bệnh này cũng mang chứng bệnh kia. Thuốc men chỉ đỡ mà không chữa lành.
Bố "đi" mãi và tôi cũng mong Cụ quên "về" với Mẹ tôi nhưng thực tâm, ai cũng biết rằng tất cả chuyện đời đều phân chia sẵn ranh giới nên mỗi khi ra ngoài giới hạn đã định, chúng ta đều có cái giá phải trả! Người xưa vẫn thường nói: "Bách tuế vị kỳ" mà...
Bố tôi và các con của Cụ đang chia sẻ hạnh phúc và khó nhọc, mỗi ngày một khổ hơn vì thế người nhiều kẻ ít tặng Cụ thời giờ và tình thương để mong Cụ hưởng những mùa xuân êm đềm còn lại trong đời.
Qua kinh nghiệm "Một Ngày Với Tuổi Trăm Năm" vừa trình bầy, thực tâm tôi không muốn sống trường thọ đến tuổi "bách niên" để phải trả giá dù nhẹ hay nặng bởi vì sự việc đó chắc chắn sẽ liên hệ đến các con và người thân của tôi sau này... khổ đau sẽ nhiều hơn hạnh phúc! Tuy nhiên, muốn là một chuyện, không ai trong chúng ta tránh khỏi số mệnh đã an bài...
Cuối cùng, liệu chúng ta còn nên chúc nhau câu "Bách niên giai lão" mỗi khi xuân về nữa không?
Cao Đắc Vinh