VH Tiếng Nói Văn Học Việt Houston VH

VVH Tiếng Nói Văn-Học Việt-Houston (Viet Voice From Houston). Xin gửi bài vở về địa chỉ wendynicolennduong@post.harvard.edu. Contributing articles and commentaries should be submitted to wendynicolennduong@post.harvard.edu.

COPYRIGHT NOTICE AND DISCLAIMER

Về vấn đề bản quyền (copyright) cho tác giả Việt Nam của các bài viết được đăng tải ở đây: Chúng tôi nhận được những bài viết này từ độc giả hoặc từ các môi trường truyền thông của các nhóm người Việt, vì tác phẩm đã được phổ biến ở một môi trường công cộng nào đó. Chúng tôi mạn phép đăng tải theo lời giới thiệu của độc giả, dưới thẩm quyền "fair use exception" của luật trước tác bản quyền, vì làm việc cho mục đích giáo dục quần chúng, không vụ lợi. Nếu độc giả nào biết tác giả, xin cho chúng tôi biết để gửi lời chính thức xin phép, hoặc nếu tác giả không bằng lòng, xin cho chúng tôi biết ngay để chúng tôi lấy bài xuống theo ý của tác giả.

disclaimer re content

Quan điểm của tác giả hay độc giả trình bày ở đây không phải là quan điểm của người hay nhóm chủ trương VVFH, và vì thế chúng tôi không chịu trách nhiệm về những quan điểm hay dữ kiện đưa ra bởi tác giả hay độc giả. The views and supporting facts expressed by the authors or commenters published here are not necessarily those expressed or endorsed by VVFH or its editors. Accordingly, VVFH disclaims liability with respect to such content.

MỤC ĐÍCH:

Lời nhắn với học trò Việt Nam của giáo sư WENDI NICOLE Dương, cựu học giả FULBRIGHT Hoa Kỳ và cựu giáo sư luật đại học Denver:


Cô thành lập tập san này là đề cố gắng giữ lại những cái đẹp trong văn hóa cội nguồn của Việt Nam, đã giúp chúng ta đứng vững trên hai ngàn năm, dựa trên những giá trị đặc thù của người Việt nhưng đồng thời cũng là giá trị tổng quát của nhân loại. Hy vọng TIENG NOI VAN HOC VIET-HOUSTON, gọi tắt là VH, hay VVFH (Viet Voice from Houston) sẽ đến với người Việt trên toàn thế giới, qua độc giả thích văn chương văn học trong cả hai ngôn ngữ Việt-Anh, từ bàn tay và ánh mắt của một số it học trò Việt đang sinh sống ở Mỹ hoặc ở Việt Nam, của chính cô, cũng như của thế hệ đi trước biểu tượng là cha mẹ cô, những giáo sư ngôn ngữ.


Wendi Nicole Duong (Nhu-Nguyen) tháng tư April 2015

TRIO OF WATER LILIES

TRIO OF WATER LILIES
TRIO OF WATER LILIES enamel, markers, pen and pencil on paper. artwork by Wendi Nicole Duong copyright 2013: in all three regions of Vietnam, one can always find Hoa Sung, water lilies!

Tuesday, July 18, 2017

SHORT STORY (SURREALIST DRAMA) THE GHOST OF HATAY BY UYEN NICOLE DUONG (2000)

INTRODUCTION: Ng.Uyen Nicole Duong or Duong Nhu Nguyen, was born in Hoi An Quang Nam,

brought up in Hue and Saigon (former capital of South Vietnam). Uyen

received her B.S. in Journalism/ Communication from

Southern Illinois University, J.D. from University of Houston (Texas),

and LLM from Harvard Law School (Cambridge MA).  She is believed to be

the first Vietnamese  Judge in the United States (Serving in

Texas: Associate Municipal Judge, City of Houston, and Magistrate for

State of Texas; honoured by the American Bar Association at "Minority

Women in the Judiciary" conference -- NYC, 1992).  Practicing law but she

sees herself primarily as a writer, and writes in two languages:

Vietnamese and English.  Her pieces in Vietnamese appeared in numerous

literary magazines, her English's in SongVan Magazine, and Pacific Rim

Law & Policy Journal.  Duong Nhu Nguyen's first book in Vietnamese, 'Mui huong que,'  a

collection of short stories, was published by Van Nghe Publisher in

1999. Her short story "The young woman who practiced singing" won two

awards, one of which was the Stuart Miller Writing Award organised by

the District of Columbia Bar Association (1998). The short story "The Ghost

of Ha Tay" was a finalist selection for the Columbine Award of the

Moondance Film Festival 2001.  Duong Nhu Nguyen also wrote articles and

critiques. Her article "Gender issues in Vietnam – The Vietnamese Woman:

Warrior and Poet" appeared in the Pacific Rim Law & Policy Journal,

University of Washington, College of Law, March 2001.


Publications:

* Mui huong que (short story collection. CA: Van Nghe Publisher, 1999)

* Gender issues In Vietnam – The Vietnamese Woman: Warrior and Poet

(Article, book length, University of Washington, College of Law: Pacific Rim Law &

Policy Journal March 2001).

* The woman who practiced singing (short story. Songvan Magazine, 1998)

* The Ghost of Ha Tay (short story. Wordbridge Magazine, 2002)

vietnamjournal.org]


The Ghost of Ha Tay

by Ng.Uyen Nicole Duong

(Dedicated to the soul of my aunt)


--"TELL ME ABOUT HER," HE SAID, ROLLING THE "R" OF THE LAST word, the

refined European accent alienating him from the chipped, nineteen

seventy-ish furniture of my incense-filled, run-down workshop in

mid-town Houston. I was pressing my elbows onto my humble veneer

desktop, hunching my shapeless five foot three body over it, when the

towering tall white man handed me the rumpled, stained name card that

spoke of the long journeys and hard trips so different from the first

class cabin of international airlines. I thought, instead, of slow,

sleepy trains and noisy, rusty buses crawling across Southeast Asia,

carrying inside them compartments and wooden benches where people and

chickens competed for the same narrow space, stopping along rest

stations where peddlers waved dusty white rice cakes in the haggard face

of tired passengers.


I glanced at the black bold type face that was supposed to identify my

unexpected visitor and found, instead, the name of a woman:

Jasmine Khai

Coudert Brothers

Paris. London. Milan. New York City.


I recognized the name of the international law firm, which brought me

back to my days at the University of Saigon in the early 70s, when I was

once famous enough to be blacklisted by the government as an anti-war

student, draft evader, and anti-government columnist. Back then, I had

heard of the French-founded, oldest law firm in America, which sent its

lawyers to Saigon to serve the needs of American businesses -- from the

international adoption of war orphans to the acquisition of supplies and

materials and the hiring of local labor for defense contractors.


I looked into the deep blue eyes underneath curly lashes and thought of

the Mediterranean sea I once dreamt of as a boy growing up in Vietnam.

The square angle of the jaw line spelled beauty on a man not more than

thirty five years of age, reminding me of all those French movie stars

who lived in Loire castles and symbolized my childhood fantasies about

travelling to old Europe. Those days, I had dreamt, too, of the gleaming

body of the Seine on one autumn day, when yellow and red leaves flew in

the air, dancing to the vibrant music of Berlioz.


"St. Exupery and His Little Prince, that is your type," I said. For a

moment, he frowned, perhaps genuinely surprised, before nodding his

curly blond head. I saw before me the ardent, innocent, and watery eyes

of the grown up version of the Little Prince, tall and lanky, already

aging and tired of life at 35, yet still looking for his rose. One

Jasmine Khai.


He had introduced himself to me as Jean Paul Lambert, formerly with

Agence France Presse. I prided myself on belonging to the same breed of

men – the journalistic type.


"You must know her," he said almost pleadingly. "She said she used to

live here and would return here."


He had not forgotten the primary purpose of his visit. He was a man

desperately looking for a woman. In a split second, all cultural

barriers collapsed, and I saw so distinctly the faces of all the

Vietnamese men who had come to me looking for girlfriends or mistresses

in the old country. They all looked alike, bearing in their soul and on

their face the despair of a lover.


I grabbed the old business card he had handed me with what was left of

my right hand, three banana fingers to be exact. The missing two fingers

had been donated to the American dream, I always bragged about memories

of the earlier days of my immigrant existence. Straight out of a refugee

camp, I ended up in Houston as a meat chopper for a slaughter house.

Occupational hazard led to my fond memory of the ambulance chaser

attorney – the first white man I knew in America, who advised me to give

up workers compensation in exchange for a lawsuit settlement that helped

me set up my workshop. My workshop was the price of the two missing fingers.


I was waiting for my visitor to inquire about the missing fingers, but

no question came my way. He stirred anxiously in his chair, oblivious to

my famous trademark – Uncle Ten's missing banana fingers, that was. He

was a lover all right, completely absorbed in the reminiscence of his woman.


"A lawyer?" I probed. "Avocat a la cour?" I added in French. "Coudert has

never had any office in Houston." I waited for a reaction. There was

none. I continued, "Maybe it's just a woman…."


"She isn't any woman," he wasted no time cutting me off, his beautiful

accented voice sounding rush and impatient. I took one more look at his

boyish face. Perhaps he wasn't just any man.


I had been in this workshop for twenty years and no white man had set

foot in my territory, let alone one that took me back to my own boyhood

dreams, typical of middle-aged Vietnamese men who loved and hated the

renaissance culture of Indochina"s colonists, just as they had embraced

and, at the same time, rejected the entrepreneurial spirit of America.

It was 1999 and the big boys of Texas who once occupied their high-rent

offices in uptown and downtown Houston had gradually moved into the

Vietnamese neighborhood mid-town, tearing down old buildings and putting

up stucco facades for overpriced condominiums and offices. They helped

change the face of Houston that way. Yet I had held steadfast to my own

little shop, refusing their offers to abandon the sanctuary that

land-marked my Vietnamese neighborhood. Outside my front gate, I put up

a pole with the South Vietnamese flag. On the window, I imprinted a

drawing of the ying and the yang, symbolic of my Taoist philosophy. I

put no sign or name plate on the unobtrusive wooden door, protected by

thick, black iron fences and the intercom system that forced my

unexpected visitors to announce their names before they could gain entry

to the square hole where I practiced my trade. And art.


I"d like to think of my home-made, one-man-show newsletter, and all that

came with it, as a genuine art. The art of reading my people and

creating that mystical connection to a former homeland. Mine was the one

and only Vietnamese publication that recounted the unusual stories of a

culture in exile, all those extraordinary tales no one could verify,

disprove, or refute. I once typed all my stories and corrected typos

with an ink pen, photocopied my original on an old, beat-up Xerox

machine, and distributed copies at Asian grocery stores all over town.

The format and appearance of my publication had improved through the

years, as I replaced the old IBM self-correcting typewriter of the 70"s

with a desktop computer connected to a laser printer typifying the late

90s. I also purchased a better Xerox machine. The content of my

newsletter, though, had maintained its essential characteristics. There

were Vietnamese who thought of my work as gossipy trash. Others regarded

it with awe, calling it the borderline between science and spirituality.

My fans were always conscious of my name -- I was the famous, infamous

Uncle Ten, Cau Muoi, former journalist in the old country, self-made

entrepreneur, one- man publishing house, Houston"s only Vietnamese

psychic, private eye, and Jack of all trades. All Vietnamese businesses

in Houston, regardless of size and type, had been my advertisers at one

time, supporting my leisurely lifestyle and the growth of my one-man

newsletter – the Vietnamese appetite for the bizarre and misfit. The

publication was almost as old as the history of Vietnamese resettlement

in Houston, Texas, since the communist takeover of Saigon in 1975.


Uncle Ten"s workshop could mean different things to Vietnamese, but it

had never been the visiting place for a white man. Until this day.


"Burn an incense stick," my grown-up Little Prince urged. Obviously he

had heard of my routine. He had done his homework.


So I burned my incense stick, and prepared myself for meditation.


--"WATER, PLENTY OF WATER, CHRYSTAL CLEAR, I CAN SEE THE bottom of a

stream, all those smooth pebbles and white gravel lying silently,

witnessing, " I said, squinting. All blinds had been closed. Sun ray had

no place in my hours of meditation. In the film of incense smoke, the

white man"s face had lost its boyish grin. The gravity of his expression

confirmed I was on the right path.


I went on to describe the epitome of a perfect Asian woman. Waist small

enough to fit in some white man"s stretch of a hand. Eyes wetted with

self-sacrificing tears and almond-shaped, like boats that carried

midnight dreams. Mouth too demure to become nagger of criticism or

complaints. A leaf-like stature willowy in the wind but stoic enough to

take the abuse of man and fate. I was describing my own dream version of

Madame Butterfly.


--"Orchid. Mauve pink is the color of lips and flesh," I blurted out,

and my visitor"s face became whiter than a sheet.


--"Blueberry fields," I added, and watched him close his eyes. I told

him what happened when mauve turned violet, and rose lips and flesh

turned purple. They all blended in with blueberry fields. I might have

seen a tear dropping from the lash curtains covering the blue eyes of an

emotional man. If his eyes were the sky, it had turned stormy at the

sound of my words. All due to the deep, purplish color of blueberry fields.


--"So you know her," he said. I deliberately stayed quiet, neither

refuting nor affirming. I was Uncle Ten, man of cosmos. I was supposed

to know everything. That was understood.


When the lash curtains unveiled and he opened his large blue eyes to

stare at me again, I saw the turmoiled emotions of memory relived, and

knew it would be his turn to speak.


--"She held the key to my room," he said. "And that was how we met. In

Hanoi"s Metropole Hotel. Nineteen ninety four, the year the U.S. lifted

its trade embargo against Vietnam."


"IT WAS MY FIRST TRIP TO INDOCHINA AND I FOUND IT TO BE A strange land.

My daily thoughts and images were registered in my mind like an express

train traversing a stormy night, cutting through thunder and rain. Even

the plush, yet somber furniture of the newly renovated Metropole had

that flashback effect on my mind -- I felt constantly in a dream,

especially at around 10 o"clock at night, when I floated through the

hotel lobby toward the music bar. There I would review my notes for the

day over a glass of after-dinner liquor, widely awake as an observer,

yet dream-like as a participant.


"I had never been able to rationalize, dissect, or understand that

dream-like state.


"The dream-like state stayed with me even in broad daylight when I

rushed through the small alleys of sleepy Hanoi, in and out of rundown

government buildings and villas where Ho Chi Minh portrait smiled his

paternal smile upon his socialist-bureaucrat descendants. It was Uncle

Ho"s same signature smile, in war and in peace.


"The dream-like state persisted when, at sunset, I ran along Hanoi"s

misty, pacifying lakes and rustic temples, capturing into my pupils the

vestige of France in what was left of old Indochina. You see, I was born

in Paris, in 1965, son of an aging father who married late and had spent

time in Indochina. The colony to me was once a set of black and white

photographs, which turned into life only after I began my international

assignment with Agence France Presse, all happening at a time when

France had just returned to her favorite colony by buying and renovating

what she once owned almost a hundred years ago: the landmark Metropole

Hotel in central Hanoi.


"I made my home in the Metropole and learned my routine quickly,

accepting my hypnotic, dream-like state as part of what Indochina had

instilled in me those days.


"Every Wednesday night, the music bar of the Metropole had a special

quartet that featured the piano, the flute, the violin, and the cello in

an array of popular classical and modern pieces. The quartet played

everything from Pachebell"s Cannon in D to Le Docteur Zivago. The young,

skinny classical musicians of Vietnam who became Metropole lounge

performers impressed me with the way they held their instruments against

their slender frame, much more profoundly than with the sound they made.

The poignant dignity they portrayed could only be matched by nostalgic

Indochina herself.


"One such Wednesday night became memorable, when I looked up from my

notes and found a young woman singing with the quartet. She looked so

out of place, dressed in Western clothes – a long, black, clinging knit

dress and matching cardigan. She was not exceptionally beautiful,

especially in a country full of beautiful and slender women moving like

butterflies in their graceful, body-fitting ao dai. I didn"t find them

particularly attractive. Too fragile and naïve, like the young limbs of

children or vases that could easily break. I didn"t want to handle

anything with that much care, especially in my constant dream-like state.


"It was the woman"s long black dress and penetrating eyes that defined

her. The rest of her, except for the black dress, black eyes and flowing

hair, seemed almost transparent in my blood shot eyes at eleven o"clock

at night amid the Cuban cigar smoke of the travellers who congregated at

the landmark Metropole. She could be either twenty six or thirty nine,

the bearer of those dark eyes looking down my soul, yet leaving no

memorable first impression. Even her voice, clear and vulnerable, sort

of like the Greek singer Nana Mouskouri, filled my ears one second and

then dissolved the next, leaving the vibrato almost surreal. She was

singing in Vietnamese. In a song, the language sounded less

monosyllabic, less clipping, more melodious and pleasant. A local singer

she was supposed to be, but somehow she looked and acted foreign and out

of place.


"Having gulped down my whisky that night, I was ready to go back to my

room when she caught my eyes. After she ended her song, I picked up my

key from the table. Fate crept in and I dropped my key. I looked around

my chair. I couldn't find the key.


"Is this what you are looking for, Monsieur?"


"I heard the question asked in perfect Parisian French.


"I looked up and found a pair of black patent leather sandals, on a pair

of feet the size of my palm, with seductively painted red toe nails.

Above them was the hem of a black dress. I was stooping on to the

carpeted floor, and she was standing in front of me, too close for

comfort, the Vietnamese singer, a figure in a long black dress with

flowing hair. She was holding the key to my room.


"You see, I might have been constantly in my dream-like state, but

somehow the colors, images, lines, and angles of what I saw that night

remained perfectly real, frozen in memory. They formed the moment we met.


"MY MIND THOSE DAYS WAS LIKE THAT TRAIN PASSING THROUGH the night with

its rhythmic motion, amidst thunder flashing against a distorted,

blackened horizon. She was the only real thing in that horizon of dream.

We used to meet every Wednesday night after her performance. She showed

me her American passport and gave me the business card you now hold in

your hand. She told me she was a lawyer travelling from Houston, Texas,

to Hanoi, Vietnam to re-establish an office for Coudert Brothers after

its nineteen-year absence from the country. What was a Coudert lawyer

doing in the Metropole Hotel, singing Vietnamese music? I once asked,

and she answered with a question. What was a young French newsman doing

in a music bar at eleven o"clock at night listening to Vietnamese love

songs he could not understand? Le cauchemar, mon pere, et L'Indochine,

I could have said, but of course she had no business knowing about my

nightmare or my father, and I had no business telling. Agence France

Presse and Coudert Brothers brought us together, she said, and I readily

agreed. We were two adults from two separate places, intertwined by

history, roaming an exotic place for a past of which we knew nothing,

she added. Again, I readily agreed.


"It was such an odd feeling to have this stranger, a Vietnamese woman

you just met, hold the key to your room, open it, slip in, and stretch

herself down on your bed. From that point on, she became the steam from

an herbal tea pot, colorless yet distinctive. She permeated into the

air, filling my space, my soul, unable to break, neither yielding nor

conquering, never letting go. Making love to her was like descending

into myself, without seeing a path. I returned to the center of me, in a

web I could not understand.


"Naturally, there came a time when Wednesday nights in the Metropole

became the core of my existence in Hanoi, and being without her meant

being engulfed in a total void. My former life in Paris seemed so far

away it existed no more. In that state of mind, I discovered one night

how she had always held more than just the key to my hotel room.


"I followed her once from the Metropole hotel out to the cemented alleys

of Hanoi. We walked under Hanoi"s moonlight, with her running ahead of

me, laughing backward, in the same clear voice that sang those

incomprehensible songs during our Wednesday night routines.


"Move on, Jean Paul," she said, and I moved toward the trace of

moonlight that shone onto her heels. We walked on, with me following

her, as though the whole night had just begun.


"We stopped in front of a tall, red brick wall, mossy and dull like the

complacent witness of the hundred years that manifested themselves in

the ancient quarters of Hanoi. I looked up and realized we were in front

of some old, hideous building, the familiar French architecture no

longer carrying its charm. She leaned her black clad body against the

damp wall and whispered to me. "Aren't we home, Jean Paul?"


"Your soul must have wandered around here a hundred years ago," she

said, laughing still.


"Perhaps," I joined her in her folly. Everything was possible in the

dream-like state of Indochina.


"Why are we here, Jasmine?" I pressed her against the wall and asked in

between a kiss.


--"Hoa Lo," she said. "The name means a burning fire stove," she

whispered into my ears. She let me know we were standing against the

back wall of the infamous Hanoi prison, built by the French to hold

Vietnamese patriots. Later on it became the hell on earth for American

pilots.


"I looked down her oval face and found in the streak of moonlight a pair

of inviting lips, puffy in the shade of mauve pinkish orchid. I

attempted to wipe the lipstick off with my thumb, but there was no

lipstick to smear. She said mauve pink was the lip color of Vietnamese

girls. During French colonialism, they were all captured and sent to Hoa

Lo, where their mauve lips turned purple. "Into the color of blueberry

fields," she said.


"I looked into the streak of moonlight on her face again and thought

those orchid lips of hers, too, had indeed turned bluish lavender.


"One moment passed, and the next thing I saw was her silhouette running

down the blackened alley, her shiny heels stepping skillfully around

little ponds of rainwater accumulating on the alley, the hem of her

dress dancing above them. I followed her again and we crossed many more

alleys and dark, paved streets, before we reached the front gate of an

old brick house. She held my hand and led me in, telling me we were in

the house where her folks once lived. "Almost a hundred years ago," she

said. She kept on talking. No longer in her flawless English or French,

but in the clipping tonal sounds of her native tongue. She was pouring

out her soul.


"We slipped U.S. dollar bills to the children and adults with scrupulous

eyes so that they would go away, leaving us alone in the dark, humid

house where I watched her squat nude in the courtyard, under a stream of

August moon. In the mossy courtyard less than ten feet wide, near sewage

and trash, she scooped rainwater from a slippery clay container with an

old powder milk tin can and poured it on her naked self. If I had been

an artist, I would have painted the sight of her nudity, but I was no

artist, and all I could do was to carry her wet self inside the house,

to the bamboo bed under an opaque mosquito net, tugged behind an old

curtain made out of some cheap flowery cotton fabric. I held my breath

and toughened my muscles to the point of stillness. I could smell my own

sweat and the unsanitary smell of urban poverty, and the heat seemed

eternal in that small space, and every drop of water residue on her skin

became a soothing source of breeze to take me away from the filthy,

stuffy deep alleys of poor Hanoi. Onto a different world. That of raw

sensual love. I travelled in moments too precious to be locked up in

drawers of memories destined to fade into old age. "There was a young

girl who used to live here," she said as I dozed off. "They caught her

father and sent him to Hoa Lo and he died there. The mother took the

girl to her village, far away from here, but there was no hiding from

fate, and something happened to the girl later, toward the end of the

war," her words dimmed away.


"In my usual dream-like state, my body reached out for hers and I seized

her lips when they turned from mauve to lavender. I was making my way

through the damp swamps and jungles of Southeast Asia and all of the

things they did to the Vietnamese patriots and American pilots held in

Hoa Lo were being done to me. Every nerve ending in me rose and fell and

I submerged in the pain-pleasure-pain cycle that numbed my brain. Love"s

tender secret, share it with me, I kept hearing her voice. The

pain-pleasure cycle stopped only after I turned my sweated body to the

first beam of sunlight that pierced through my eyelids. I regained

consciousness that way, along with the beckoning of the day. "She was

standing nude in front of the only window in that old house, singing to

herself. Voi que sapete che cosa e amor. Donne vedete s"io l"ho

nelcor…You have the answer, you hold the key. Love"s tender secret,

share it with me. Lady, I beg you, share it with me. The sun had not

fully emerged outside and her silhouette edged against the sheer curtain

made out of some cheap white lace that had turned yellow. But in the

gray area where she stood in the beginning of dawn, the lace appeared

virginal. Quietly, I watched her breathe: the curve of her waist and the

smallness of her back heaving up and down, resembling the fluid shadow

of a brown cello edging against a misty bridal veil.


"From the bed, I watched her turn and look at me in the middle of her

song, her pointed breasts protruding, her eyes full of tears. The sun

was gradually rising behind her, behind all that cello silhouette edging

against lacy veil. Lady I beg you share it with me…

""--So what"s your secret, Jasmine?" I yearned and yearned.

""--You will know in time," she said.


"Up until then, you see, I had only seen her at night. My heart somehow

sank into despair as I watched the first sun ray sweep through her dim

and pale face. Somehow I knew I would be bound to that face. I must have

fallen in love.


--"Why are you here, Jean Paul?" the tearful almond eyes asked of me.


"She moved slowly toward me and fell onto my chest and my arms held her

and I cried my hot tears into the cooling mass of her hair. I cried into

the darkness that imprisoned me. Lady I beg you, share it with me, her

song still echoing, and I went on to tell her my secret about the old

Frenchman who died in the asylum outside Paris. During the last hours of

his life, the old man was still speaking incessantly of the blueberry

fields, where he had raised the rifle and aimed at the smooth forehead

in between a pair of dark girlish eyes looking up at him in terror. The

bloody naked body jerked backward once, the skull cracked, and then the

pair of eyes, wide-opened, bewildered, despaired and horrified,

submerged underneath all that crystal clear water. At some point, the

open pink mouth and warm mauve pinkish flesh would turn purplish. Into

the color of the blueberry fields.


I might have stopped telling. But the nightmare never ended.


"WEEKS WENT BY. MY LIFE MOVED ON AND I RETURNED TO MY Hanoi routine with

wire service assignments and my transient newsman"s existence at the

Metropole Hotel, except that she no longer came to me on Wednesday

nights. The quartet was still playing in the music bar, but she was

gone. I waited and waited for any kind of news.


"The news finally came when a handwritten note was delivered to my room

one day. I was to hire a car and a chauffeur and she would meet me for a

day trip to the mountainous areas west of Hanoi. Her job in Vietnam was

finished and she would soon be returning to Houston, Texas. The

handwritten note contained all of the necessary instructions for my

driver to follow.


"We must have a proper farewell away from Hanoi," the last line of the

note said.


"The car passed through the red dirt hills near the dam Yen Phu

overlooking the Red River, onto the bridge of Phung Thuong, and stopped

at the green foothills of the Tan Vien range, where the dirt road

leading to the foothills could no longer accommodate four-wheeled

transport. She was standing by the dirt road waiting for me, dressed in

black satin pantaloons and a white silk blouse like a proper Vietnamese

girl of the olden days. A black silky shawl covered half of her face and

draped over her shoulders. I could hardly see the flow of her hair on

such a hard, windy day.


"It was the second time I saw her in broad daylight.


"I got off the car and she held my hand and led me into the hilly range

ahead of me, almost reddish against the mid-afternoon sun. She told me

we were in the province of Ha Tay, land of freedom fighters and poets.

An ox- pulled cart sluggishly passed by us, stirring up the red dirt,

competing hopelessly with curious moped drivers who bumped their

vehicles up and down the road, their head turning backward for a glimpse

of us as an odd couple – a tall blond Westerner and a Vietnamese girl

dressed in a traditional countryside outfit. The villages and hamlets of

north Vietnam spread themselves before my inquisitive eyes and I

followed, again, the dancing heels of my companion. I moved in a trance

in the foreign landscape of wet farm land, dotted with little,

brown-faced people who bent their skinny back over green rice paddies.


"We kept moving until I heard the sound of a waterfall.


"--There, Jean Paul," she pointed, pulling her scarf down to show me her

face.


"I looked at the oval face accented by those mauve colored lips I had

come to love, just in time to see the pair of dark eyebrows raising in a

mysterious expression of challenge. I followed the tip of her finger

toward the horizon afar to catch sight of the body of water, sapphire

clear underneath the reddish sun. It was just a pond or a stream, not a

waterfall after all, although the melody of cascading water passing

through rocks jingled in the air, mixed with the pleasant chirping

sounds of singing birds. Beyond the sparkling water was a purplish, deep

blue forest, standing against a pale blue horizon crisscrossed with

darting arrows of reddish light streams.


"It was a breathtaking sight.


"A perfect place reserved for love. Hers and mine, I thought.


"She was much shorter than I and, tilting on her toes, she reached for

my face, her arms wrapping around my neck. The mauve orchid lips quickly

touched mine. Vaguely I tasted the tangy sweetness of blueberries.


--"Watch, Jean Paul, the blueberry fields. Vietnamese blueberries. The

Sim Tim," her sweet voice engulfed my ears.


"She let go of me and walked toward the purplish blue of the horizon.


"--Jasmine," I called her name. She stopped and turned and the sweet

voice continued along with the chirping birds:


--"The girl"s name was Khai, Jean Paul. She was washing clothes by the

stream. Near the blueberry fields."


"I moved. She let go of the scarf. It flew toward me. Backward, against

the wind. I could hear her words in all that thin air.


"--Three French legionnaires found her. They tore up her clothes and

held down her limbs. They took turns, Jean Paul."


"The scarf hit my face. Gently, so gently. Yet, I bent down in pain.


"--They could just have left her there. But one Frenchman raised the rifle."


"The scarf was covering up my eyes and I could no longer see her face. I

heard her words still.


--"Blood spurted from her forehead and she fell backward. Into the

stream. The water was once so clear before it turned brutally red. Her

lips, bruised and cut, were still the shade of mauve pink."


--"No, Jasmine," I cried out in vain. Through the scarf, I saw her face.

It was growing larger and larger, out of proportion. From the corner of

my eyes, her lips looked purplish blue.


--"The villager found her two days later, floating down the stream,

toward the blueberry fields. Her lips had turned purple, Jean Paul."


"I scraped the scarf off my face and let it fly. I looked into the

horizon of blueberry fields and no longer saw her face.


"--Farewell, Jean Paul," I heard her voice for the last time.


"Sunset was approaching. Darkness gradually descended upon the Tan Vien

foothills, and I found myself alone in the wilderness, facing all those

blueberries.


She was no where to be found.


There was no trace of her, except for that flying scarf.


"I SPENT THE NEXT THREE YEARS OF MY LIFE TRAVELLING ALL over Vietnam

looking for the owner of that scarf. I longed for the familiar shade of

orchid pink in lips that turned lavender and then purplish at nighttime.


"I never found her. Nor those vivid colors and shapes that haunted my

memory since then.


"I headed next toward the United States. Orange County, California and

then Houston, Texas, land of the Vietnamese immigrants."


"FIND HER FOR ME AT ANY RATE, S"IL VOUS PLAIT," MY GROWN-UP version of

The Little Prince said to me, his blue eyes searching urgently for a

promise.


I was Uncle Ten, man of cosmos. I should have made such a promise. But I

didn"t.


He left my workshop with a stint of hope, still, shown in the handshake

and the turn of the blond head at the door. The blue eyes were still

pleading for a common belief.


Left alone in my workshop, I sighed and felt genuinely sad. I should

have told him the blueberry fields were a common Vietnamese metaphor for

love in wartime. All educated Vietnamese raised in the aftermath of

French colonialism knew this. Perhaps my grown-up Little Prince knew

this. Perhaps he didn"t. Blueberry fields existed only in a poem,

written by a Vietnamese romanticist during his participation in the

hellish battle of Dien Bien Phu. The poet-warrior dedicated his poem,

Blueberry Fields, to a beautiful young woman who had died during the

Indochinese war.


Growing up in Vietnam, I had never seen blueberry fields. It was just

the name of a romantic poem. I mentioned that name at the beginning of

my meeting with Jean Paul, purely out of gut instinct and my own notion

of fantasy.


After all, I was Uncle Ten, Houston's only man of cosmos.


###

POSTSCRIPT: 

I sighed.  A breath drawn from eternity.  No one should be surprised with that type of breath, because, after all, I am Uncle Ten, man of cosmos. 

The last stream of sunlight had disappeared from the window pane, yet I was still sitting at the chipped table, with my elbows pressing down onto its all-purpose chipped top. I was still dreaming about those horizon-less blueberry fields.      

I would soon have to go home, the home that had the fingerprints of the white lawyer who had ordained my two crushed fingers, such a token of flesh and bones offered to my American dream.   

On the entrance to my home, that white male had faithfully carried out my instructions: to crave onto concrete my authentic Vietnamese full name and those numbers...Alas, those numbers and letters inherited from the old priest Alexandre de Rhodes, who handed down to us the Roman alphabet.  All those numbers and letters meant so little to the United States of America, yet were so significant to my parents who had been resting in peace, waiting for me, in all those rice fields and red soil and whatever else that made up our attachment to the motherland. 

Looking at the carved concrete, deciphering those letters and numbers, no one would know that the abode owner was me, Uncle Ten, all-purpose newsman, top prophet for the Vietnamese refugee community in Houston, Texas, the one and only character there was, back to ancient days. 

After all, I would have to stand up, lock the office and traverse into the night.

Out there, Jean Paul Lambert and Jasmine Khai were waiting...

All three of us would be riding the wind...

THE END 

WND C July 4 2019 

Uyen Nicole Duong copyright 2000,2017, 2009

Saturday, July 15, 2017

EM ÐÃ NHÌN THẤY ANH -- ̣Thơ Xuôi tiếng Việt của Dương Như Nguyện

EM ÐÃ NHÌN THẤY ANH

Em đã nhìn thấy anh,
như rừng thông cao nguyên của ngày niên thiếu
Cho em dựa gót
Khi con dốc đời đã mỏi hai bàn chân khô

Em đã nhìn thấy anh,
Như cây tre trăm tuổi của làng mạc Thần Kinh
như trúc non đón chào văn miếu,
bắc cầu cho em đi trên những dòng thơ huyền sử người nằm xuống
cho thế giới chuyển mình

như lạch suối miền biên giới ửng sương mù
Cho em đứng bên, một sớm mai tĩnh mịch
Lệ nhỏ xuống dòng nước mát
Một buổi soi mình
Em chất vấn dung nhan đã bắt đầu tàn tạ,

Như núi đồi trùng điệp Sapa
Mùa đông ấm khói lam chiều
Cho em nương náu,
tìm hơi ấm thôn bản thượng người trung nguyên

Và em cũng đã nhìn thấy anh
Qua ấn tượng Picasso méo mó và lệch lạc
Trên bức tường loang lổ xanh vàng của Tây Phương mục rữa
Của phố hè phản bội đầy tội lỗi Parisien

Qua cơn thịnh nộ gió mùa, nước dâng miền nhiệt đới
Da em vỡ từng mạch máu
Như anh đã bẻ gẫy hồn em
thành mảnh vụn chia lìa
rồi dẫm nát dưới gót chân người giả đò câm điếc

nỗi buồn như cuộc chiến tương tàn
đã cột chặt chúng ta vào quá khứ, cho đau khổ trở thành thiên thu

***

Nhưng cuối cùng
Thì em cũng đã quay về
nhìn thấy anh
Lần này và lần sau nữa
Trên yên bình cát trắng Nha Trang
Giữa sóng hiền Đại Lãnh

Tìm về anh với mảnh đời côi cút
Của người con gái mang số kiếp da vàng
Tìm anh như tìm cha mẹ trong sách thơm hồn luân lý giáo khoa thư
Tìm anh lạc lõng giữa đời như cánh chim hoang bay tìm tông tổ

Em đã nhìn thấy anh
Mừng rỡ như trẻ lên năm chạy chơi bờ ruộng
Tìm ra đồng bằng Cửu Long thẳng cánh cò bay,
Gió phì nhiêu qua cù lao xưa vun đắp hiền hòa
nuôi sống cội nguồn người viễn xứ

Ôi quê hương đó
Là tình yêu trăm năm ràng buộc chúng ta để cùng đi tới
Ôi tình yêu đó
Là quê hương réo gọi chờ đợi chúng ta đoạn cuối cuộc đời

Rồi đây
Khi đau khổ đã nguôi
Cơn lốc đã tan
Chiến tranh đã dứt

Yêu em, yêu em và yêu em
Trên bước đường thiên lý ngược xuôi

Một lần này
và muôn vạn lần sau nữa

Yêu em, yêu em, rồi lại yêu em,
trong thái cực vô tận của vũ trụ

Yêu em đi
Phải không anh?
Hỡi dòng Cửu Long đắp bồi rộng lượng của em…


***

Em đã nhìn thấy anh giữa mưa ngâu tháng bảy?
Em chờ anh…từ vực thẳm điêu tàn
Tháng bảy mưa ngâu, Chức Nữ Ngưu Lang
Anh có nhớ, như là em đã nhớ?

Cuối tháng bảy 2007
copyright DƯƠNG NHƯ NGUYỆN

Bản dịch Truyện ngắn cuả Uyên Nicole Dương ̣Như-Nguyện, Hồn Ma Tỉnh Hà Tây, được đề cử giải thưởng Columbine, dạng Bi Kịch Siêu Thực, là một giải thưởng cho những śáng tác nhân bản ṭai đại hội film MoonDance năm 2000

Bóng Ma Hà Tây

Truyện ngắn của Ng.Uyển Nicole Dương

Chuyển ngữ: Dr. Linh-Chân Brown, Ph.D., Linguistics, University of Colorado.

Tác quyền của DNN, hoàn tất ngày 30 tháng Mười Một, 1999 ̣(postscript ́ ngay 8 thang bay 2019). 

Về bản dịch Việt ngữ, xin liên lạc LCB linhbrown@comcast.net (GS Brown co tac quyen derivative ve ban dich).

---


(Kính dâng hương hồn cô tôi) -- DNN


LỜI GIỚI THIỆU GIẢI THƯỞNG VÀ ĐẠI HỘI MOONDANCE FILM FESTIVAL:

Đại Hội Film, Những Điệu Múa của Trăng, hay Nguyệt Vũ, là nhóm phụ nữ Hoa Kỳ làm film để có tiếng nói song song, đối chiếu với đại hội Nhật Vũ của Robert Redford (người đã sang lập giải Sun Dance cho film nghệ thuật ở Mỹ). Đây là hội đồng đã chọn lựa và đề cử truyện ngắn Bóng Ma Hà Tây của Dương Như Nguyện cho giải Columbine trong đại hội này năm 2000. Giải Columbine dành cho những tác phẩm đóng góp vào đề tài xây dựng các giải pháp hòa bình cho thế giới (peaceful resolutions of global conflicts).

Truyện ngắn của Uyển Nicole Dương (Dương Như Nguyện) đã được Ban tổ chức Đại hội Kịch Ảnh Moon Dance Festival chọn vào chung kết (finalist) giải thưởng Columbine về truyện ngắn (loại bi kịch siêu thực). Truyện nói về nỗi đau thương của dân tộc Việt trong giai đoạn Pháp thuộc, và ghi nhận lại hai biến cố lịch sử: 1975 (cuộc di cư của người Việt; sự thành lập cộ̣ng độ̀ng hải ngoạ̣i Diaspora) và 1994 (Hoa Kỳ b̉ỏ cấm vận tại Việt Nam).

Bản dịch tiếng Việt dưới đây cuả Dr. Linh Chân Brown, phu nhân cố GS TV Đàm Quang Hưng.
__________

"ÔNG HÃY CHO TÔI BIẾT VỀ CÔ TA," một giọng nói lơ lớ tiêu biểu cho người Âu châu, vang lên lạc lõng trong căn phòng làm việc tồi tàn sặc mùi hương khói của tôi tại khu downtown thành phố Houston. Tôi đang chống khủyu tay lên chiếc bàn gỗ cũ rích, thân hình thước sáu không có gì đặc biệt gò lên mặt bàn, thì người đàn ông da trắng cao lênh khênh đưa cho tôi một tấm danh thiếp mang dấu vết của những cuộc hành trình khó nhọc, khác xa với những chuyến du lịch bằng các chuyến bay quốc tế hạng nhất. Tấm thiếp làm tôi nghĩ đến những chuyến tàu ồn ào, chạy uể oải, những chuyến xe lục tỉnh bò xuyên qua các nẻo đường vùng Đông Nam Á, với những dãy ghế gỗ chở người cùng gà vịt lúc nhúc, thỉnh thoảng chuyến xe lại dừng tại các bến xe dọc đường chen chúc những người bán hàng rong giơ những chiếc bánh đa bụi bậm lên mời chào những khuôn mặt mệt mỏi của hành khách.

Tôi liếc qua những dòng chữ in đậm tưởng sẽ đọc biết danh tính của người khách bất ngờ, nhưng trên tấm thiệp lại là tên một người đàn bà:

Jamine Khai
Coudert Brothers
Paris. London. Milan. New York City.


Tôi nhận ra tên của một hãng luật sư quốc tế, cái tên làm cho tôi nhớ lại những ngày còn đi học ở trường Đại Học Sài Gòn vào đầu thập niên 70, ngày mà tôi được chính phủ chú ý nhiều và ghi vào sổ đen, coi như một sinh viên phản chiến, trốn động viên, và viết báo chống chính phủ. Hồi đó, tôi có nghe tới một hãng luật sư lâu đời nhất tại Hoa kỳ, nhưng được thành lập tại Pháp, hãng này chuyên phái luật sư tới Sài gòn để cung cấp các dịch vụ cần thiết cho những việc có liên quan tới người Mỹ - từ việc nhận nuôi các trẻ mồ côi vì chiến tranh đến việc mua bán vật liệu và thuê mướn nhân công cho các hãng thầu việc với bộ quốc phòng.

Tôi nhìn sâu vào cặp mắt xanh ẩn dưới hàng mi dài, và nghĩ tới biển Địa Trung Hải nơi mà ngày còn nhỏ ở Việt Nam tôi đã có lần mơ thấy. Người đàn ông chỉ độ 35 tuổi là cùng, quai hàm vuông vắn, đẹp mạnh dạn, vẻ đẹp của hắn làm tôi liên tưởng tới những minh tinh màn bạc Pháp sống trong những lâu đài vùng Loire, biểu hiện cho những cuộc viễn du qua miền Âu châu cổ kính trong những giấc mộng trẻ thơ của tôi. Những ngày đó tôi cũng đã mơ tới dòng sông Seine loáng nắng vào một buổi sáng mùa thu, khi những chiếc lá vàng và đỏ lơ lửng nhảy múa trên không trung theo điệu nhạc rộn ràng của Berlioz.

"Anh chắc phải thuộc về típ người của St. Exupery và Hoàng Tử Nhỏ," tôi nói. Hắn khựng lại một phút, nhăn mặt, có lẽ ngạc nhiên thực sự, trước khi gật gù mái tóc vàng dợn sóng. Trước mắt tôi là cặp mắt ướt át, đầy nhiệt huyết, ngây thơ, cặp mắt của Hoàng Tử Nhỏ nay đã thành người lớn, dỏng cao, già dặn hơn mớ tuổi 35, mà vẫn còn đi tìm một bông hồng quý. Bông hồng có tên là Jasmine Khai.

Hắn tự giới thiệu là Jean Paul Lambert, trước làm cho cơ quan truyền thông Pháp Agence France Presse. Tôi hãnh diện tự coi mình cũng là đồng loại với đám người này - giới báo chí.

"Chắc ông phải biết cô ta chứ," hắn nói giọng như van lơn. "Cô ta có nói là ngày trước cô ta sống ở đây, và sẽ chắc chắn trở lại."

Hắn không quên mục đích chính về chuyến đi của hắn. Đây là một người đàn ông đi tìm người đàn bà của hắn trong tuyệt vọng. Trong khoảnh khắc, tất cả những ranh giới chia cách hai nền văn hóa đều bị xụp đổ, và tôi nhìn thấy trên khuôn mặt hắn tất cả những khuôn mặt của những người đàn ông Việt nam đã đến với tôi mong tìm lại được bạn gái hoặc người yêu của họ. Họ đều có nét giống nhau, sự tuyệt vọng mang nặng trên khuôn mặt, và trong tâm hồn của những người đang yêu.

Tôi chộp tấm danh thiếp bằng những gì còn lại của bàn tay phải, đúng ba ngón chuối ngự. Hai ngón đã mất vì đem cúng cho giấc mộng Hoa kỳ, tôi vẫn tự khoe về những kỷ niệm của những ngày đầu tiên trở thành di dân của tôi. Từ trại tỵ nạn, tôi tới thẳng Houston, làm đồ tể cho một lò sát sinh. Sự hiểm nguy của nghề nghiệp đưa đẩy tôi tới một kỷ niệm thích thú về một người luật sư chuyên đuổi theo xe cứu thương - người da trắng đầu tiên tôi quen biết từ khi sang Mỹ, người đã khuyên tôi nên bỏ việc nhận bồi hoàn lao động để đổi lấy một vụ kiện đem lại cho tôi một số tiền đủ để mở văn phòng làm việc. Phòng làm việc của tôi là giá cả của hai ngón tay bị cắt cụt.

Tôi chờ người khách trẻ hỏi chuyện về hai ngón tay cụt, nhưng không thấy hắn đả động gì tới chuyện đó. Hắn cựa quậy, bồn chồn trên ghế, hoàn toàn không để ý tới câu khơi chuyện đã thành nhãn hiệu của tôi - câu chuyện về những ngón tay chuối ngự mất tích của Cậu Mười. Thật đúng là một con người đang ngụp lặn trong biển yêu, không để ý tới sự việc chung quanh mình.

"Một luật sư à?" Tôi chất vấn. "Avocat a la cour?" Tôi hỏi thêm bằng tiếng Pháp. "Coudert chưa bao giờ mở văn phòng ở Houston." Tôi chờ phản ứng của hắn. Nhưng không một phản ứng. Tôi tiếp thêm, "Có lẽ chỉ là một người đàn bà nào đó…"

"Cô ta không phải chỉ là một người đàn bà," hắn vội vàng ngắt lời tôi, giọng nói thanh nhã có pha chút vội vã , nôn nóng. Tôi ngước nhìn khuôn mặt trẻ trung của hắn một lần nữa. Có lẽ hắn không phải chỉ là một người đàn ông.

Tôi làm việc trong văn phòng này đã hai chục năm tròn mà chưa hề có một người đàn ông da trắng nào bén mảng tới, huống chi đây lại là một người đàn ông đã làm cho tôi nhớ lại những những giấc mơ thời niên thiếu, những giấc mơ điển hình của những người đàn ông Việt ở tuổi trung niên, những người đã vừa yêu thích vừa không chịu nổi nền văn hóa phục hưng của bọn thực dân Đông Dương, cũng như họ đã vừa chấp nhận mà vừa chối bỏ tinh thần kinh doanh của người Mỹ. Vào năm 1999, khi mà những con buôn lớn của Texas không còn chỉ làm ăn ở những khu sang trọng đầu tỉnh, dưới phố nữa mà cũng bắt đầu xâm nhập vào những khu nhiều người Việt ở giữa thành phố. Họ phá tan những mặt phố cũ và trát vữa stucco thành những mặt nhà mới để làm những dãy condo và văn phòng đắt giá. Bằng cách này, họ đã giúp thay đổi tiền diện của Houston. Tuy nhiên tôi vẫn khăng khăng giữ lại nơi làm việc bé nhỏ của tôi, không chịu để cho họ mua lại trụ sở đã thành một nơi trú ẩn thân thuộc, đã thành một dấu tích của khu cư ngụ Việt Nam. Ngoài cổng sắt, tôi khắc vòng âm dương, biểu hiện cho triết lý Đạo giáo của tôi. Trên tấm cửa gỗ kín đáo, tôi không để tên hay bảng hiệu gì cả, chỉ có hàng rào sắt dày chắc nịch và một hệ thống báo hiệu bắt buộc khách vãng lai phải xưng tên mới được vào căn phòng vuông vức nhỏ nhắn dùng làm nơi hành nghề của tôi. Và đây cũng là nơi tôi làm văn nghệ.

Tôi muốn nghĩ là bản tin cây nhà lá vườn mà tôi đơn thương độc mã in ra và tất cả những việc linh tinh gắn liền với nó, là một nghệ thuật chính cống. Nghệ thuật bói người và sáng tạo sợi giây huyền thoại gắn bó với quê hương cũ. Bản tin của tôi là một tờ báo bằng tiếng Việt duy nhất kể lại những mấu chuyện kỳ lạ của một nền văn hóa tha hương, gồm những truyền kỳ không ai minh chứng hay bác bỏ được. Đã có hồi tôi đánh máy các mẩu chuyện và sửa lỗi chính tả bằng bút mực đen, sao chép lại bằng máy in Xeroc cà-tịch cà tàng, và đem phân phát tại các chợ Á châu khắp nơi trong thành phố. Hình dạng, dung nhan của tờ báo đã có khá hơn với ngày tháng qua, tôi đã thay thế chiếc máy chữ IBM cũ rích tự xóa, mua từ thập niên 70, bằng một máy điện toán để bàn, gắn liền với một máy in laser, điển hình cho kỹ thuật của thập niên 90. Và mua một máy in Xeroc mới. Nhưng nội dung tờ báo vẫn giữ nguyên đặc tính của nó. Một số người Việt cho rằng việc tôi làm chỉ là một sự ngồi lê đôi mách bẩn thỉu. Có những người khác thì lại thán phục hết cỡ, coi tờ báo là một chiếc cầu nối khoa học với tâm linh. Những người hâm mộ đều biết tên tuổi của tôi -- danh tiếng tôi nổi như sóng cồn, tôi là Cậu Mười, ông đồng nổi danh, nguyên phóng viên nơi quê hương cũ, nhà kinh doanh tự lập, nhà xuất-bản độc cô, tiên tri người Việt độc nhất của Houston, kiêm thám tử tư, và kiêm bách nghệ. Tất cả những doanh nghiệp lớn nhỏ của người Việt tại Houston đều đã từng là nguồn quảng cáo cho tôi, phụng sự cho cuộc sống thanh nhàn của tôi và làm cho tờ báo đơn phương độc mã của tôi tăng trưởng - người Việt vốn khoái những chuyện dị kỳ, tréo cẳng ngỗng. Bản tin cũng gần như là có cùng tuổi đời với lịch sử định cư của người Việt tại Houston, tiểu bangTexas, từ khi cộng sản chiếm đoạt Sàigòn năm 1975.

Đối với người Việt thì Văn phòng Cậu Mười mang những ý nghĩa khác nhau, tùy từng người. Nhưng chưa một người da trắng nào đặt chân vào ngưỡng cửa này. Cho đến hôm nay.

"Đốt cho một nén hương đi chứ," cậu Hoàng Tử Nhỏ đã thành niên thúc dục. Cậu ta hẳn là đã từng nghe đến thông lệ của tôi. Hắn đã soạn bài thật kỹ.

Thế rồi tôi đốt một nén hương, và sửa soạn ngồi thiền.

---------------------------------------------------------------------------------
--"NƯỚC, NHIỀU NƯỚC LẮM, NƯỚC THẬT TRONG, NHÌN THẤY ĐÁY NƯỚC, SỎI nhẵn
và đá trắng nằm im lặng , đang chứng kiến…" tôi nói, mắt lim dim. Tất cả các màn cửa đã được khép lại. Trong những giờ thiền của tôi, ánh nắng không được soi tới. Trong hương khói mờ mờ, nét trẻ trung của người đàn ông da trắng đã biến mất. Khuôn mặt đăm chiêu nghiêm trọng của hắn xác nhận là tôi đã đi đúng hướng.

Tôi tiếp tục miêu tả đặc tính toát yếu của một người đàn bà Á châu toàn mỹ. Eo nhỏ, vừa tầm tay ôm của một người đàn ông da trắng. Cặp mắt hạnh nhân long lanh ngấn lệ hy sinh, như những con thuyền đưa mộng trong đêm dài. Miệng nhỏ xinh, không đủ cỡ để trách móc hay than phiền. Thân người như lá liễu lả lướt trong gió, nhưng đủ dẻo dang để chịu đựng sự phũ phàng của đàn ông và của số mệnh. Tôi đã tả Madame Buttterfly theo dáng dấp người trong mộng của tôi.

--"Lan rừng. Màu môi và màu da là màu hoa cà," Tôi bật nói, và da mặt người khách trẻ bỗng thành trắng bệch, trắng hơn cả màu khăn trải giường.

--"Cánh đồng sim," tôi nói tiếp, và thấy hắn nhắm mắt lại. Tôi bảo hắn khi màu hoa cà thành màu xanh, môi hồng và da thịt thành tím sẫm. Tất cả hoà lẫn vào vườn sim. Hình như tôi nhìn thấy một giọt nước mắt rơi từ hàng mi dài che dấu màu mắt xanh của người đàn ông đa cảm.

--"Vậy là ông có biết nàng," hắn nói. Tôi cố tình ngồi im, không phủ nhận mà cũng không xác nhận. Tôi là Cậu Mười, người của vũ trụ. Tôi phải biết tất cả mọi sự. Ai cũng hiểu điều đó.

Khi hàng mi dài mở lên và đôi mắt xanh chiếu vào mắt tôi một lần nữa, tôi nhìn thấy những cảm giác xao động của một kỷ niệm đang được sống lại, và biết là tới lượt hắn lên tiếng.

--"Nàng có chìa khoá vào phòng tôi," hắn nói. "Và đó là nguyên do chúng tôi gặp nhau. Ở khách sạn Metropole tại Hà Nội. Một nghìn chín trăm chín mươi tư, năm Mỹ hủy bỏ cấm vận tại Việt Nam."

---------------------------------------------------------------------------------
"Đó là lần đầu tiên tôi tới Đông Dương và nhận thấy mảnh đất này kỳ lạ. Ý nghĩ và hình ảnh mỗi ngày in vào trí óc tôi như chuyến tàu suốt trong một đêm giông bão, xuyên qua sấm sét và mưa gió. Ngay cả những đồ đạc sang trọng nhưng buồn tẻ của khách sạn Metropole tân trang cũng gợi cảm giác hồi tưởng trong tâm trí tôi -- lúc nào tôi cũng cảm thấy như mình đang mơ ngủ, nhất là vào khoảng 10 giờ đêm, khi tôi lướt qua hành lang của khách sạn về phía quầy nhạc. Đó là nơi tôi nhâm nhi ly rượu mạnh sau bữa ăn và duyệt lại những ghi chép trong ngày, tỉnh táo như một quan sát viên, mà cũng mơ mơ màng màng như một người dự cuộc.

"Tôi chưa bao giờ phân tách, mổ xẻ được tình trạng nửa tỉnh nửa mơ đó.

"Tình trạng này hiện hữu giữa ban ngày ngay cả khi tôi bước vội qua những ngõ hẻm của một Hà Nội yên tĩnh, khi ra vào những căn nhà và những ngôi biệt thự cũ của chính phủ, nơi ảnh Hồ Chí Minh với nụ cười cha chú nhìn xuống đám con cháu quan lại của xã hội chủ nghĩa. Nụ cười đặc thù của "bác Hồ", không thay đổi, trong thời chiến cũng như thời bình.

"Tình trạng nửa tỉnh nửa mơ này cứ dai dẳng mãi trong cả những buổi hoàng hôn, khi tôi chạy vòng quanh bờ hồ mờ sương khói của Hà Nội, và qua ngôi đền quê mùa, thu nhận vào cặp mắt những dấu vết nước Pháp còn bỏ sót lại ở dất Đông Dương cổ xưa này. Ông biết không, tôi sinh ra ở Paris, vào năm 1965, con trai của một người đàn ông đã có tuổi, lấy vợ muộn và đã sống một thời gian ở Đông Dương. Thuộc địa đối với tôi hồi đó chỉ là những tấm ảnh đen trắng, những hình ảnh chỉ trở thành sinh động khi tôi bắt đầu nhận làm việc với hãng Agence France Presse. Tất cả đều khởi sự khi nước Pháp vừa trở lại với mảnh thuộc địa sở thích của nó bằng cách mua và tân trang khu vực mà nó xuýt làm sở hữu chủ trong gần một thế kỷ qua: khách sạn Metropole, một mốc lịch sử tại trung tâm Hà Nội.

"Tôi lấy Metropole làm nơi tạm cư, và rồi cũng phải tập quen với những thông lệ hàng ngày, chấp nhận trạng thái nửa tỉnh nửa mơ của mình, coi đó như là một tình trạng không tránh khỏi mà vùng đất Đông Dương đã xâm nhập vào người tôi.

"Cứ mỗi đêm Thứ Tư, lại có một ban nhạc bốn người chơi đàn tại quầy nhạc của Metropole; ban nhạc gồm có dương cầm, sáo, vỹ cầm, và hồ cầm. Họ chơi cả nhạc cổ điển lẫn nhạc mới. Ban nhạc bốn người này chơi từ bản Pachebell's Cannon in D cho đến nhạc khúc Le Docteur Zivago. Các nhạc sĩ người Việt mảnh khảnh này đã làm cho tôi thán phục, với cung cách họ điều khiển nhạc cụ nhiều hơn là với tiếng nhạc do nhạc cụ gây ra. Họ điều khiển nhạc cụ của họ với một sự chịu đựng não nuột chỉ so sánh được với linh hồn sầu mộng của mảnh đất Đông Dương mà thôi.

"Rồi một đêm Thứ Tư , một đêm đã trở thành bất diệt, khi tôi ngửng lên nhìn thì thấy một người người đàn bà trẻ tuổi đang hát với ban nhạc. Trong chiếc áo đầm tây phương, trông nàng thật là lạc lõng - chiếc áo dạ hội màu đen bó sát thân hình mảnh mai, bên ngoài là áo len cùng màu.

Nàng không phải là tuyệt sắc giai nhân, nhất là trong xứ sở đầy rẫy những người đàn bà đẹp dáng dấp thanh tao như những cánh bướm trong chiếc áo dài của họ. Tôi không thấy họ quyến rũ đối với tôi. Họ mảnh mai và ngây thơ quá, như những cánh tay non nớt của trẻ thơ, hay như những bình hoa quý dễ vỡ. Tôi rất sợ phải nâng niu những vật dễ vỡ, nhất là trong trạng thái mơ màng của tôi.

"Chính chiếc áo dạ hội màu đen, đôi mắt sâu sắc và suối tóc bồng bềnh của người đàn đó đã biểu hiện cho con người của nàng. Tất cả những gì còn lại trên người chỉ là những viễn ảo qua con mắt đỏ ngầu của tôi vào lúc mười một giờ khuya đêm ấy, giữa đám khói thuốc xì-gà Cuba của những du khách tụ tập tại khách sạn mốc điểm Metropole. Tuổi nàng chừng 26, 27 gì đó, chủ nhân của cặp mắt đang nhìn thấu suốt linh hồn tôi, vậy mà tôi không có ấn tượng đầu tiên nào khác đáng ghi nhớ. Ngay cả giọng hát trong trẻo yếu ớt, không khác gì giọng của nàng ca sĩ Hy lạp Nana Mouskouri, tràn vào tai tôi nối tiếp nhau không rõ rệt thành chuỗi âm thanh rung động không lời. Nàng hát bằng tiếng Việt. Trong bài ca, ngôn ngữ không còn nghe như một ngôn ngữ độc âm nữa, không còn sắc bén nữa, mà trở nên dịu dàng du dương hơn. Người ta nói nàng là một ca sĩ địa phương, nhưng không hiểu sao trông nàng vẫn có những cử chỉ lạc lõng, xa lạ như không phải là người của nơi này.

"Tôi uống vội ngụm whisky cuối cùng rồi sửa soạn định trở về phòng thì cặp mắt giữ tôi lại. Tôi nhặt chùm chìa khóa lên. Định mệnh len vào, và tôi đánh rơi chìa khoá. Tôi cúi tìm dưới mấy cái ghế, nhưng không thấy.

"Ông đang tìm cái này phải không, Monsieur?"

"Nàng hỏi bằng tiếng Pháp, giọng nói như một dân Paris thực thụ.

"Tôi ngước lên nhìn từ đôi săng-đan đen bóng loáng, ôm gọn đôi chân nhỏ như bàn tay của tôi, móng chân sơn một màu đỏ cám dỗ. Lên chút nữa là viền áo màu đen. Tôi đang khom người xuống sàn lót thảm, nàng đứng trước mặt tôi, gần gũi quá làm tôi ngạt thở, người ca sĩ Việt Nam, một thân hình bó sát trong chiếc áo dạ hội màu đen, suối tóc bồng bềnh. Nàng đang cầm chìa khoá phòng tôi.

"Ông biết không, mặc dù tôi đang ở trong thái nửa tỉnh nửa mê, nhưng không hiểu sao, màu sắc, hình ảnh, đường nét, góc cạnh của đêm hôm đó lại trở thành một thực trạng ghi sâu vào tâm trí tôi. Đó là hình ảnh ngày chúng tôi gặp nhau.

***
”TÂM TRÍ TÔI NHỮNG NGÀY ẤY KHÔNG KHÁC GÌ CHUYẾN TÀU ĐÊM CHẠY NHỊP NHÀNG qua một không gian đầy sấm sét in trên một nền chân trời đen tối. Chỉ có nàng là thực giữa nền trời hư ảo đó. Tối thứ Tư nào chúng tôi cũng gặp nhau, sau khi nàng trình diễn xong. Nàng cho tôi xem sổ thông hành Mỹ của nàng và đưa tôi tấm danh thiếp mà ông đang cầm trong tay. Nàng nói nàng là một luật sư từ Houston, Texas, đến Hà Nội để tái thiết một văn phòng cho Coudert Brothers sau mười chín năm bẵng đi không làm việc ở đây. Luật sư hãng Coudert mà sao lại đi hát tiếng Việt ở khách sạn Metropole này ? Đã có lần tôi hỏi nàng, thì nàng đáp lại bằng một câu hỏi: Một phóng viên trẻ tuổi Pháp có việc gì mà lại ở quầy rượu vào lúc muoi một giờ đêm và nghe nhạc tình ca Việt nam dù chẳng hiểu gì cả? Tôi định trả lời: Le cauchemar, mon pere, et L'Indochine (vì cơn ác mộng, vì cha tôi, và vì đất Đông Dương), nhưng dĩ nhiên nàng chẳng cần biết chuyện đó, và tôi cũng chẳng cần biện bạch làm chi. Nàng bảo, Agence France Presse và Coudert Brothers đã mang chúng ta lại với nhau, và tôi sẵn sàng đồng ý.


"Tôi có một cảm giác lạ lùng khi thấy một người mới gặp, một người đàn bà Việt nam lại cầm chìa khóa phòng mình, mở cửa lách vào, rồi nằm duỗi ra trên giường của mình. Từ giây phút đó, nàng như hơi nóng từ một ấm trà, không màu sắc nhưng có hương vị rõ rệt. Hơi nóng tỏa ra khắp không gian, quyện vào thân thể, linh hồn tôi, không nhượng bộ mà cũng không chiếm đoạt. nhưng không buông thả. Khi làm tình với nàng tôi tưởng như là tôi đã đi sâu vào tâm điểm của chính mình, dù không nhìn thấy lối đi. Tôi trở về với tâm mạng của mình, mà không hiểu rõ đã tới được bằng cách nào.

"Dĩ nhiên là sau một thời gian như vậy, những đêm Thứ Tư tại khách sạn Metroplole trở thành trọng tâm cuộc sống của tôi trong thời gian tôi ở Hà Nội, và khi nào vắng nàng thì thế giới của tôi trống trải, rỗng tuếch. Đời sống tại Paris trước kia của tôi đã xa xôi quá rồi hầu như không còn có thực nữa. Trong tâm trạng đó, một đêm kia tôi khám phá ra là nàng không chỉ nắm chìa khoá phòng tôi mà thôi.

"Có lần tôi theo dõi nàng ra khỏi khách sạn Metropole qua những hẻm đường tráng xi-măng của Hà Nội. Chúng tôi rảo bước dưới ánh trăng Hà Nội, nàng chạy trước và ngoái lại cười vang, bằng cái giọng trong trẻo vẫn thường hát lên những bài ca mà tôi không hiểu vào những đêm thứ Tư thường lệ của chúng tôi.

"Nhanh lên, Jean Paul," nàng nói, và tôi rảo bước tới gần gót giầy cao bóng loáng dưới ánh trăng. Chúng tôi tiếp tục bước đi, tôi theo sau nàng, như thể đêm vừa mới bắt đầu.

"Chúng tôi ngừng lại trước một bức tường gạch đỏ đầy rêu phong, buồn thảm như một chứng nhân của những bách niên hiện diện trong những khu phố cổ kính của Hà Nội. Tôi ngẩng nhìn và nhận ra một tòa nhà thật xấu xí, nền kiến trúc Pháp quen thuộc không còn vẻ quyến rũ của nó nữa. Nàng dựa thân hình bó sát trong chiếc áo đen vào bức tường ẩm lạnh, và thì thầm."Chúng mình đã về tới nhà rồi, phải không, Jean Paul?"

"Linh hồn anh chắc đã tha thẩn quanh đây cả trăm năm rồi," nàng nói, vẫn trong tiếng cười vang vang.

"Có lẽ," tôi phụ họa với nàng. Trong trạng thái nữa tỉnh nửa mơ của miền Đông Dương này, cái gì cũng có thể có xảy ra được.

"Chúng mình tới đây để làm gì hở Jasmine?" Tôi ép người nàng vào tường, vừa hỏi vừa đặt vào môi nàng một nụ hôn.

--'Hỏa Lò,' nàng nói. "Cái tên này có nghĩa là lò đốt lửa," nàng thì thầm bên tai tôi. Nàng cho tôi biết chúng tôi đang dựa lên tường căn nhà ngục ô nhục của Hà Nội, do người Pháp xây để giam những người Việt yêu nước. Về sau, nơi này thành địa ngục trần gian của những phi công Mỹ.

"Tôi cúi xuống khuôn mặt trái xoan và nhìn đôi môi đượm những tia ánh trăng, đầy khêu gợi, căng màu lan rừng tím nhạt. Tôi dùng ngón tay cái định xóa vết son, nhưng môi nàng không thoa son. Nàng bảo môi con gái Việt nam đều có màu hoa cà. Trong thời kỳ Pháp đô hộ, những thiếu nữ Việt nam bị bắt giam trong Hỏa Lò, và ở đó môi họ thành tím đậm.

'Thành màu cánh đồng hoa sim,' nàng nói.

"Tôi lại nhìn vào những tia ánh trăng trên mặt nàng, và tự nhủ quả thật màu lan rừng trên môi nàng cũng đã thành một màu tím xanh sậm.

"Trong khoảnh khắc, tôi đã thấy dáng người thanh thanh lướt chạy về phía hẻm tối, gót giầy bóng loáng của nàng khéo léo nhảy tránh những vũng nước mưa trên đường phố, tà áo tung tăng nhảy múa theo. Tôi lại chạy theo nàng và chúng tôi băng qua nhiều ngõ hẹp và những vỉa hè lát gạch tăm tối nữa, rồi mới đến trước cổng một căn nhà gạch cũ. Nàng nắm tay tôi, vừa kéo vào vừa bảo đây là căn nhà gia đình nàng đã có lần sinh sống. "Gần cả trăm năm nay rồi," nàng nói. Nàng nói liến thoắng. Không nói bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp hoàn hảo nữa mà bằng tiếng mẹ đẻ của nàng, thứ ngôn ngữ độc âm líu lo. Nàng nói như trút hết tâm sự của mình…

"Chúng tôi dúi vài đô-la cho đám trẻ và những người tò mò để họ bỏ đi nơi khác, cho chúng tôi được tự nhiên trong căn nhà âm u ẩm ướt đó, để tôi được ngắm nàng ngồi khoả thân trong sân, dưới ánh trăng tháng Tám. Trong mảnh sân gạch chỉ độ mười bộ vuông, đầy rêu phong, gần cống rác, nàng dùng ống bơ múc nước từ một chiếc vại sành nhẵn nhụi, và dội lên người. Nếu tôi là hoạ sĩ, tôi đã vẽ hình ảnh khỏa thân của nàng, nhưng vì tôi không phải là họa sĩ, tôi chỉ còn biết bế bổng thân hình còn ướt đẫm của nàng lên và bế vào bên trong ngôi nhà, đặt nàng lên chiếc võng tre có màn rủ quanh, ẩn sau một tấm màn bằng vải hoa đã sờn cũ. Tôi nín thở, tất cả các thớ thịt trong người căng lên, nín lặng. Trong khoảng không gian bé nhỏ đó, tôi ngửi thấy mồ hôi của chính mình và mùi dơ bẩn của sự nghèo nàn của đô thị, hơi nóng tựa như vô tận, và mỗi giọt nước còn đọng lại trên da thịt nàng trở thành một cơn gió thoảng mang tôi ra khỏi những ngõ hẻm ô uế, oi bức và nghèo nàn của Hà Nội. Đến một thế giới khác. Thế giới của tình yêu xác thịt. Tôi chu du trong những khoảnh khắc quý báu - những khoảnh khắc không thể bị kiềm chế trong những ngăn kéo để chỉ còn là những kỷ niệm cằn cỗi với thời gian.

"Ngày trước có một cô gái sống trong căn nhà này," nàng nói vào lúc tôi vừa thiu thiu ngủ. "Người ta bắt ba của cô gái và đem giam ở Hỏa Lò, ông ta chết tại đó. Bà mẹ đưa con gái về làng, xa khỏi nơi này, nhưng sau này lúc gần cuối chiến tranh cô cũng bị chuyện gì đó, tránh cũng không khỏi số phận…," giọng nàng nhỏ dần.

"Trong lúc mơ mơ màng màng đó, tôi vươn người tới bên nàng, tìm hôn đôi môi đang chuyển từ màu hoa cà sang mầu tím ngắt. Tôi đang lặn lội qua vũng lầy của miền Đông Nam Á, và tôi đang phải gánh chịu tất cả những gì người ta đã bắt những người Việt yêu nước và những phi công Mỹ bị bắt giam tại Hỏa Lò phải gánh chịu. Mọi giây thần kinh trong người tôi co dãn liên tục và tôi ngụp lội trong niềm đau đớn pha trộn với khoái lạc thay phiên nhau đến tê dại cả trí óc. Thoang thoảng bên tai tôi vẫn nghe thấy tiếng nàng, Hãy chia sẻ với em bí mật của tình yêu đi. Chu kỳ đau đớn và khoái lạc chỉ ngưng lại khi tôi xoay mình hé mắt về phía những tia sáng đầu tiên của buổi bình minh báo hiệu cho một ngày mới bắt đầu.

"Nàng đang đứng khoả thân trước cái cửa sổ duy nhất của căn nhà cổ, thì thầm hát. Voi que sapete che cosa amor. Donne vedete s'io l'ho nelcor…Em đã biết câu trả lời, em nắm chìa khóa vào đời, chia sẻ với anh, bí mật của tình yêu. Em ơi, anh van xin em hãy chia sẻ niềm yêu. Trời chưa sáng rõ bên ngoài và bóng nàng in lên tấm màn ren mỏng mảnh cũ kỹ đã vàng vọt với thời gian. Nhưng trong ánh sáng mờ xám của bình minh, mảnh màng ren trông trinh trắng như mới. Tôi lặng lẽ ngắm nàng đứng đó thân hình cân đối rung động với từng hơi thở, tựa như bóng của một chiếc hồ cầm in trên nền màn ren mờ ảo của phòng cô dâu.

"Từ phía giường, tôi thấy nàng quay lại ngưng hát và nhìn tôi, bộ ngực căng phồng và đôi mắt đẫm lệ. Sau lưng nàng, sau bóng hồ cầm in hằn lên tấm màn ren, trời dần dần sáng rõ. Em ơi anh van xin em hãy chia sẻ niềm yêu…Jasmine, em có bí mật nào vậy hở em? Tôi mong đợi, mong đợi. "Rồi anh sẽ biết," nàng nói.

"Cho tới ngày hôm đó, tôi chỉ gặp nàng vào ban đêm mà thôi. Tâm hồn tự nhiên nặng trĩu trong khi ánh sáng ban mai rọi lên khuôn mặt mờ mờ nhợt nhạt. Không hiểu sao tôi biết là tôi đã bị gắn liền với khuôn mặt đó. Chắc là tôi đã yêu nàng.

--"Tại sao anh lại đến đây, Jean Paul?" đôi mắt hạnh nhân đẫm lệ hỏi tôi.

"Nàng chậm rãi bước tới gần bên tôi rồi nhào người lên ngực tôi, và tôi dang tay ôm chặt lấy nàng, để mặc giòng nước mắt nóng hổi của mình rơi lên suối tóc lạnh như sương. Tôi nức nở trong không gian đen tối đã tù hãm tôi bấy lây nay. Em ơi anh van xin hãy chia sẻ với anh, dư âm câu ca vẫn còn văng vẳng, và tôi kể cho nàng nghe điều tôi vẫn giữ kín về một người Pháp già nua kể lể không ngừng một câu chuyện đã xảy ra trên cánh đồng đầy hoa sim, nơi người lính trẻ đã giơ súng nhằm trúng vào vầng trán giữa đôi mắt đen lánh ngây dại, tuyệt vọng và đầy kinh hoàng của cô gái. Trong khi đó, đôi môi hé mở của cô không biết đã chuyển màu tím từ lúc nào. màu của đồng hoa sim hoang dại. Tôi ngừng kể, nhưng cơn ác mộng vẫn đeo đuổi không tha.

***
"NHỮNG TUẦN SAU ĐÓ, CUỘC ĐỜI VẪN TRÔI, VÀ TÔI TRỞ LẠI VỚI cuộc sống tẻ nhạt tạm bợ của tôi tại Hà Nội, với những công tác thông tin, viết báo tại khách sạn Metropole, nàng không đến với tôi vào những đêm thứ Tư nữa. Ban nhạc bộ tư vẫn chơi, nhưng nàng như đã biến mất. Tôi khắc khoải, đợi chờ tin nàng.

"Sau cùng thì cũng có tin của nàng qua một mảnh giấy viết tay gửi đến phòng tôi. Nàng dặn tôi phải thuê một chiếc xe có tài xế, hẹn tới gặp nàng, rồi cùng nhau lái về miền đồi núi phía tây Hà Nội. Công việc của nàng ở Việt Nam đã làm xong và nàng sẽ trở về Houston, Texas. Trong mảnh giấy, nàng ghi rõ tất cả những con đường cho tài xế lái theo.

"Chúng ta phải có một ngày với nhau, xa Hà Nội, để từ biệt cho đàng hoàng," đó là dòng chữ cuối cùng trong mảnh giấy.

"Chiếc xe chở tôi qua những đồi đất đỏ gần đê Yên Phụ nhìn ra sông Hồng, qua cầu Phụng Thương rồi ngừng lại ở một chân đồi gần rặng núi Tản Viên, từ nơi này xe không đi vào con đường đất được nữa. Nàng đang đứng đợi tôi bên lề đường, mặc quần sa-tanh đen và áo cánh bằng lụa trắng như một cô gái Việt của ngày cổ xưa vẫn thường mặc. Chiếc khăn lụa đen quàng lên đầu, che nửa khuôn mặt và rủ xuống bờ vai. Trời hôm đó gió thổi lồng lộng mà tôi không nhìn thấy mái tóc dài bồng bềnh của nàng.

"Đó là lần thứ hai tôi nhìn thấy nàng trong ánh sáng ban ngày.

"Tôi xuống xe và nàng nắm tay tôi dẫn tôi đi vào một vùng đồi thoai thoải, màu đất đỏ in trên nền nắng buổi trưa. Nàng bảo nơi chúng tôi đang đi là thuộc tỉnh Hà Tây, miền đất của những chiến sĩ đấu tranh cho tự do, và của những thi sĩ. Một chiếc xe bò lạch cạch đi qua mặt chúng tôi khuấy lên chút bụi đỏ, như cố đua đòi với những chiếc xe máy phóng lọc cọc qua mặt, và những người lái xe máy đi qua còn ngoái cổ nhìn chúng tôi, một cặp khác lạ - một anh chàng Tây Phương tóc vàng cao lênh khêng và một thiếu nữ Việt Nam ăn mặc như một cô gái đồng quê. Tôi bỡ ngỡ nhìn những xóm làng miền Bắc Việt trải ra trước mắt, rồi rảo bước theo đôi gót giầy tung tăng của người bạn đồng hành. Tôi bưóc đi như người mất hồn trên vùng đất xa lạ của những cánh đồng, đây đó rải rác vài khuôn mặt nâu xạm nắng của những con người đang cúi thân hình gầy guộc trên ruộng mạ xanh.

Chúng tôi tiếp tục đi cho đến khi tôi nghe thấy tiếng thác đổ.

"Đây rồi, Jean Paul," nàng vừa chỉ tay vừa kéo khăn quàng xuống cho tôi nhìn thấy trọn vẹn khuôn mặt.

"Tôi nhìn khuôn mặt trái xoan và đôi môi màu hoa cà mà tôi đã yêu, ngay lúc cặp lông mày nhướng lên như ẩn một sự thách đố kỳ dị. Tôi theo ngón tay nàng chỉ về phía chân trời xa thì nhìn thấy một vùng nước, óng ánh như sa-phia dưới ánh nắng hồng. Đó chỉ là một cái ao, hoặc một dòng suối, chứ không phải là một thác nước như tôi tưởng, mặc dù vẫn nghe thấy tiếng nước róc rách chảy qua những hòn đá cuội, hòa với tiếng chim hót líu lo. Bên kia dòng nước là một khu rừng tím ngắt, in trên nền trời xanh nhạt điểm mấy vạt nắng hồng.

"Cảnh đẹp đến ngạt thở.

"Một nơi lý tưởng để yêu nhau. Nàng và tôi, tôi nghĩ thầm.

"Nàng thấp hơn tôi nhiều, và nhón gót với lên mặt tôi, tay choàng lấy cổ tôi. Môi màu tím của lan rừng thoắt chạm nhẹ lên môi tôi. Tôi nếm vị chua ngọt phảng phất như vị sim, toi muong tuong theo nhung loi nang da ke ve vi chua ngot cua loai sim ti'm.

--"Anh xem kìa, Jean Paul, đồng hoa sim tím. Sim Việt Nam. Sim Tím,' giọng nàng ngọt ngào rót vào tai tôi.

"Nàng bỏ tay rời tôi và bước về phía chân trời tím xanh.

'Jasmine,' Tôi gọi theo nàng. Nàng dừng bước ngoảnh lại, và giọng nói ngọt ngào tiếp tục cùng với tiếng chim hót líu lo:

--"Cô gái đó họ Khai, Jean Paul. Nó đang giặt áo bên giòng suối. Gần cánh đồng sim.'

"Tôi bước tới. Nàng để tuột khăn quàng. Chiếc khăn bay lại phía tôi, ngược chiều gió. Tôi vẫn còn nghe thấy tiếng nàng trong khoảng không loãng khí.

"Ba tên lính lê-dương Pháp nhìn thấy nó. Bọn chúng xé toạc quần áo con bé và tóm chặt chân tay nó. Chúng nó thay phiên nhau, anh biết không, Jean Paul.'

"Chiếc khăn phất vào mặt tôi. Nhẹ, rất nhẹ. Nhưng tôi khuỵu người xuống đau đớn.

"Đáng lẽ bọn chúng bỏ nó lại đó. Nhưng một tên Pháp nhấc súng lên.'

"Chiếc khăn bây giờ che kín mắt tôi và tôi không còn nhìn thấy mặt nàng nữa. Nhưng tôi vẫn còn nghe thấy tiếng nói.

--'Máu trào trên trán con bé và nó ngã ngửa xuống. Vào dòng suối. Dòng nước trong vắt mọi khi chuyển màu thành đỏ tàn nhẫn. Môi nó bầm rập, nhưng vẫn còn màu hồng pha tím nhạt.'

--'Không, Jasmine,' tôi kêu lên, tuyệt vọng. Qua chiếc khăn quàng, tôi nhìn thấy mặt nàng. Khuôn mặt càng ngày càng to lên khác thường. Tôi liếc nhìn đôi môi hình như có màu tím nhạt.

--'Hai ngày sau, một người dân làng thấy nó trôi xuôi dòng suối, về phía đồng sim. Môi nàng đã thành màu tím sậm, Jean Paul ạ.'

"Tôi quào tay lật chiếc khăn đang che mặt mình và để cho nó bay theo gió. Khi tôi nhìn về phía chân trời nơi có đồng sim tím thì không còn nhìn thấy mặt nàng đâu nữa.

'Vĩnh biệt, Jean Paul,' là lời cuối cùng của nàng mà tôi nghe thấy.

"Mặt trời gần lặn. Bóng tối dần dần phủ chân xuống chân núi Tản Viên, và tôi thấy chỉ còn trơ trọi một mình giữa cánh đồng sim. Không thấy nàng đâu. Và cũng không còn vết tích gì của nàng nữa, trừ chiếc khăn đang phất phơ bay mà thôi.

***

"TRONG SUỐT BA NĂM TRỜI SAU ĐÓ, TÔI ĐI KHẮP NƠI TRÊN ĐẤT VIỆT truy tìm sở hữu chủ của chiếc khăn quàng ấy. Tôi quằn quại nhớ mầu tím hồng quen thuộc chuyển mầu hoa cà rồi thành tím ngắt vào ban đêm.

"Tôi không tìm thấy nàng đâu cả. Và cũng chẳng bao giờ gặp lại những màu sắc, hình dạng đã ám ảnh tâm trí tôi từ dạo đó.

"Rồi tôi sang Hoa kỳ. Tới quận Cam bên Cali, rồi xuống Houston, tiểu bang Texas, miền đất của những di dân người Việt."

***

"CỐ TÌM RA NÀNG CHO TÔI, S'IL VOUS PLAIT," CẬU HOÀNG TỬ NHỎ đã thành niên của tôi nói, cặp mắt xanh nhìn tôi khẩn khoản đợi chờ một lời hứa.

Tôi vốn là Cậu Mười, người của vũ trụ. Đáng lẽ tôi phải hứa với hắn. Nhưng tôi không hứa hẹn.

Hắn rời văn phòng của tôi, tuy vậy, với một tia hy vọng mong manh, biểu lộ trong nắm tay bắt chặt và mái tóc vàng quay lại khi hắn đã ra đến cửa. Cặp mắt xanh vẫn còn khẩn khoản tìm kiếm một niềm tin.

Còn lại một mình trong văn phòng, tôi thở dài, lòng thật trĩu buồn. Đáng lẽ tôi phải cho hắn biết là cánh đồng hoa sim là một lời tho văn ẩn dụ để diễn tả một mối tình thời loạn ly. Tất cả những người Việt có học, lớn lên sau thời Pháp đô hộ đều biết thế. Có lẽ cậu Hoàng Tử Nhỏ đã thành niên của tôi cũng biết. Hay hắn không biết? Những cánh đồng sim chỉ hiện hữu trong một bài thơ, do một người lính Việt lãng mạn viết ra trong chiến trận Điện Biên Phủ hãi hùng. Người chiến-sĩ kiêm thi sĩ đề tặng bài thơ cho một thiếu phụ trẻ đẹp đã bỏ mình trong chiến tranh Đông Nam Á.

Lớn lên ở Việt nam mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy một cánh đồng sim. Sở dĩ tôi nhắc đến nó trong mấy phút đầu gặp Jean Paul là hoàn toàn dựa vào một bản năng tự nhiên, và cũng vì tôi đã thả tâm hồn theo một mộng tưởng huyền hoại mà thôi.

Dù sao, tôi cũng là Cậu Mười, người của vũ trụ duy nhất của thành phố Houston.

WND C 2000

###


POSTSCRIPT: 

Tôi thở dài. Tiếng thở dài thiên cổ.    

Ánh nắng cuối cùng ngoài song cửa sổ đã tan, mà tôi vẫn còn ngồi chống khiủ tay lên cái bàn thổ tả của văn phòng thập cẩm, tưởng nhớ đến cái bát ngát cuả những đồi sim tím.  

Tôi sẽ phải đi về nhà tôi. nơi có vết tích của gã luật sư da trắng (người đã giúp tôi tuyên dương hai ngón tay chuối ngự nát bấy của tôi, một cống hiến xương thịt cho giấc mộng Hoa Kỳ).  

Trước cửa  nhà tôi, gã luật sư đã trung thành làm đúng những gì tôi căn dặn:  hắn đã khắc  lên bê tông cốt sắt cái tên cúng  cơm hoàn toàn Việt Nam của tôi, cùng với những con số...Chao ôi những con số và chữ cái của cố Đắc Lộ, rất vô nghĩa đối với Hiệp Chủng Quốc, nhưng lại đầy ý nghĩa với cha mẹ của tôi bây giờ nằm yên, chờ tôi ở Việt Nam, cùng với ruộng lúa, bụi đất đỏ phù sa, và tất cả những gì khác đã tích tụ thành cái tư tưởng quê mùa gọi là quê cha đất tổ.  

Nhìn vào tấm bê tông cốt sắt ćó khắc những con số và chữ cái ấy,  nào ai biết rằng chủ nhân căn nhà cô độc ấy chính là tôi, Cậu Mười, ký giả bách nghệ, nhà tiên tri số một của người ty nạn Việt Nam tại thành phố Houston, tiểu bang Texas, nhân vật độc nhất vô nhị ngày nào...

Cuối cùng thì tôi sẽ phải đứng dậy, khóa cửa văn phòng và đi vào bóng đêm... 

Ngoài kia, đã có Jean Paul Lambert va Jasmine Khai đứng đợi...

THE END 

WND C July 4 2019 


NÓI CHUYỆN VỚI TÁC GIẢ DNN VỀ VIỆC ĐỌC SẢN PHẨM SÁNG TẠO:  

Tôi viết truyện này bằng tiếng Anh, năm 2000, và đến mùa hè năm nay 2019, mới viết thêm postscript  bằng tiếng Việt.  Tôi là người đã đi học ở trường quá nhiều về khía cạnh "nghề," nhưng về "nghiệp” thì tôi luôn luôn chấp nhận tự học, chẳng có trường ốc nào cả. Theo kinh nghiệm tự học, tôi chủ trương rằng:

--đọc thơ không thể đọc lướt, phải đọc từng chữ, từng câu, nhưng đọc bằng vô thức. Và chỉ đọc một lần để lấy cảm giác đầu tiên là cảm giác thực sự.  

--đọc tiểu thuyết hay truyện ngắn, có thể đọc lướt. điều này có nghĩa rằng đối với văn chương sáng tạo, chúng ta cần đọc hai lần: lần đầu là "đọc lướt," sau đó nếu có được tổng thể, thì mới đọc lần thứ hai:  từng câu từng chữ để thấm thía, thích thú, cảm nhận.  

--Mục đích "đọc lướt" là để lấy khai niệm tổng thể dựa trên các khái niệm sau đây:  

1.  "suspended disbelief:"  truyện có cuốn hút ta vào thế giới của ảo mộng, của trí tưởng tượng nhưng đã thành sự thật? 

2.  "tone of voice:"  giọng của người kể truyện (narrator). Là ai, có sống trước mặt ta không?

3.    "characterization/cast of characters"  -- các nhân vật?  Trong thế giới của "suspended disbelief," họ là ai, ra sao, trong môi trường như thế nào (phác họa cuả tả cảnh, tả tình, etc.)?  Các nhân vật biết những gì độc giả chưa biết, hoặc độc giả đã biết những gì nhân vật chưa biết, vì tác giả muốn cho độc giả biết, trước khi nhân vật biết? 

4.  "thematic ambition/message" -- hoài bão của sáng tạo, tức là tầm nhìn panorama -- đường chân trời cuả tác giả/tác phẩm:  chủ đích là gì, nếu có?  Chủ đích cuả nhân vật, hay chủ đích cuả tác giả?  

4a. Khi nói đến "hoài bão" sáng tạo thì phaỉ nói đến context/subtext.  Context là cảnh hưống cuả ngôn ngữ/văn chương, còn subtext la những gì không nói ra mà tiềm tàng ở đó.  Mỗi tình tiết, mỗi nhân vật và hoài bão đều có context và subtext.  Vi thế, đọc lướt xem có nhìn thấy context va subtext.    

Sau khi đọc lướt để lấy bốn  hay năm khái niệm này, thì lúc đó mới quyết định tác phẩm có nên đọc lần thứ hai, và lần thứ hai ấy, đọc hoàn toàn như mới, chối bỏ tất cả những cảm nhận do lần "đọc lướt" đã tạo ra, để đón nhận và ôm thế giới mà tác giả đã tạo ra vào chính tâm khảm của người đọc, trở thành thế giới của mình.  Nếu sau lần đọc lướt, không nắm được bốn hay năm điểm trên đây, thì có thể sẽ không đọc lại lần thứ hai.    

Nếu dạy văn chương, tôi sẽ nói quan niệm trên đây. Thật đáng tiếc ở đoạn cuối  của nghề nghiệp, tôi lại không dạy văn chương, mà dạy ....luật. Có điều luật học và văn chương cùng chung một điểm tụ, tương đồng (như hai con đường cùng dẫn tới La Mã):  Điểm hội tụ đó là thế giới của ngữ, ngôn, và ngôn ngữ.  Đó là tác động của nghệ thuật "hùng biện"  (rhetorics/the persuasive effect of language):  tác giả của tác phẩm sáng tạo phải đưa độc giả vào một thế giới ảo tưởng mà, trong một vài giây phút mua vui ̣(theo ý niệm cuả Nguyễn Du), độc  giả đã phải tin rằng có thật, để khóc, cười,  đau đớn, vui mừng, bâng khuâng, suy nghĩ, tất cả theo ý của tác giả.    

Đó là nhịp cầu tác giả-độc giả...

...đó là điểm tối hậu của văn chương sáng tạo.

###
WND C july 2019 (tác giả viết postscript thẳng bằng tiếng Việt)