VH Tiếng Nói Văn Học Việt Houston VH

VVH Tiếng Nói Văn-Học Việt-Houston (Viet Voice From Houston). Xin gửi bài vở về địa chỉ wendynicolennduong@post.harvard.edu. Contributing articles and commentaries should be submitted to wendynicolennduong@post.harvard.edu.

COPYRIGHT NOTICE AND DISCLAIMER

Về vấn đề bản quyền (copyright) cho tác giả Việt Nam của các bài viết được đăng tải ở đây: Chúng tôi nhận được những bài viết này từ độc giả hoặc từ các môi trường truyền thông của các nhóm người Việt, vì tác phẩm đã được phổ biến ở một môi trường công cộng nào đó. Chúng tôi mạn phép đăng tải theo lời giới thiệu của độc giả, dưới thẩm quyền "fair use exception" của luật trước tác bản quyền, vì làm việc cho mục đích giáo dục quần chúng, không vụ lợi. Nếu độc giả nào biết tác giả, xin cho chúng tôi biết để gửi lời chính thức xin phép, hoặc nếu tác giả không bằng lòng, xin cho chúng tôi biết ngay để chúng tôi lấy bài xuống theo ý của tác giả.

disclaimer re content

Quan điểm của tác giả hay độc giả trình bày ở đây không phải là quan điểm của người hay nhóm chủ trương VVFH, và vì thế chúng tôi không chịu trách nhiệm về những quan điểm hay dữ kiện đưa ra bởi tác giả hay độc giả. The views and supporting facts expressed by the authors or commenters published here are not necessarily those expressed or endorsed by VVFH or its editors. Accordingly, VVFH disclaims liability with respect to such content.

MỤC ĐÍCH:

Lời nhắn với học trò Việt Nam của giáo sư WENDI NICOLE Dương, cựu học giả FULBRIGHT Hoa Kỳ và cựu giáo sư luật đại học Denver:


Cô thành lập tập san này là đề cố gắng giữ lại những cái đẹp trong văn hóa cội nguồn của Việt Nam, đã giúp chúng ta đứng vững trên hai ngàn năm, dựa trên những giá trị đặc thù của người Việt nhưng đồng thời cũng là giá trị tổng quát của nhân loại. Hy vọng TIENG NOI VAN HOC VIET-HOUSTON, gọi tắt là VH, hay VVFH (Viet Voice from Houston) sẽ đến với người Việt trên toàn thế giới, qua độc giả thích văn chương văn học trong cả hai ngôn ngữ Việt-Anh, từ bàn tay và ánh mắt của một số it học trò Việt đang sinh sống ở Mỹ hoặc ở Việt Nam, của chính cô, cũng như của thế hệ đi trước biểu tượng là cha mẹ cô, những giáo sư ngôn ngữ.


Wendi Nicole Duong (Nhu-Nguyen) tháng tư April 2015

TRIO OF WATER LILIES

TRIO OF WATER LILIES
TRIO OF WATER LILIES enamel, markers, pen and pencil on paper. artwork by Wendi Nicole Duong copyright 2013: in all three regions of Vietnam, one can always find Hoa Sung, water lilies!

Tuesday, November 5, 2019

review by NGUYEN KHOA THAI ANH, TALAWAS 2005

Nguyễn Khoa Thái Anh
Ðọc sách Những người con gái của sông Hương
bia sach

Những người con gái của sông Hương: Một cung phi Việt Nam và hậu duệ của bà (Daughters of the River Huong: A Vietnamese royal concubine and her descendants) của Dương Như Nguyện (Uyen Nicole Duong), ISBN 1-928928-16-I, do RavensYard Publishing, Ltd. xuất bản; 271 trang, giá $17.95 (bìa mềm)

Vài nét về tác giả

Dương Như Nguyện sinh ở Hội An, lớn lên ở Huế và Sài Gòn, rời Việt Nam năm 1975. Cha bà là giáo sư ngôn ngữ học, mẹ dạy văn chương ở trường nữ trung học Đồng Khánh, Huế. Tuy Những người con gái của sông Hương là quyển tiểu thuyết đầu tiên của Dương Như Nguyện được xuất bản ở Hoa Kỳ (tháng 8, 2005), đây không phải là tác phẩm đầu tay của bà. Tháng Ba năm 1975, một tháng trước khi Sài Gòn thất thủ, vào năm 16 tuổi, bà đã đoạt giải danh dự Văn chương Phụ nữ Toàn quốc, nhân dịp lễ Hai Bà Trưng. Bà cũng đoạt hai giải văn chương khác ở Hoa Kỳ: truyện “Người con gái tập hát” (“The Young Woman who Practiced Singing”, tiền thân của tiểu thuyết Những người con gái của sông Hương) đoạt giải Stewart Miller của Luật sư Đoàn Hoa Thịnh Đốn, đồng thời đoạt giải truyện ngắn hay nhất do Luật sư Đoàn Houston trao cùng năm 1998; Truyện ngắn "Hồn ma tỉnh Hà Tây" (“The Ghost of Ha Tay”) được đề cử nhận giải Columbine ở Liên hoan Phim Moondance năm 2001. Hai tập truyện Chín chữ của nàng và Mùi hương quế được Văn Nghệ và Văn Mới xuất bản ở Mỹ. Bà cũng là thẩm phán Việt Nam đầu tiên ở Hoa Kỳ (Houston), được Hội đồng Luật gia Mỹ ABA/American Bar Association vinh danh. Sau 18 năm hành nghề luật sư ở Nữu Ước, Hoa Thịnh Đốn, Texas, Âu và Á châu trong địa hạt luật quốc tế, hiện bà làm giáo sư luật ở Ðại học Denver. Dương Như Nguyện cũng đã từng thi tuyển vào nhạc kịch Miss Saigon, và theo đuổi ngành diễn xuất tại American Academy of Dramatic Arts ở Pasadena và Nữu Ước.

Tác phẩm

Những người con gái của sông Hương viết về thân phận những người phụ nữ trong một gia tộc mà có lẽ nỗi truân chuyên của họ sẽ được nhiều phụ nữ Việt Nam cảm thông và chia sẻ. Xuyên suốt truyện là thiên tình sử không có hồi kết của một đôi trai gái thuộc hai thế hệ khác nhau, mang hai dòng máu, hai quốc tịch khác nhau, trong một giai đoạn lịch sử Việt Nam đầy máu lửa và điêu tàn. Đây cũng là một câu chuyện tình thi vị, nối liền ba lục địa (từ Manhattan, trở về cố đô Huế, qua Paris, đến Sài Gòn rồi lại sang Texas...), nối kết ba dòng sông (Hương giang, sông Seine và dòng Hudson của Nữu Ước). Nó là tiếng khóc đời nay cho một cuộc tình mãnh liệt không biên giới, bất chấp mối thù truyền kiếp của cha ông, và cũng là một niềm hy vọng tha thiết cho quê hương. Mị Uyên (Simone), nữ nhân vật chính trong truyện, luôn có ý thức muốn vươn lên, vượt qua cái định mệnh, cái nghiệp chướng oái oăm, oan khiên của người phụ nữ nói riêng và của thân phận con người nói chung.

Giai đoạn lịch sử trong truyện kéo dài ngót một trăm năm, trong đó việc đồng hóa dân tộc Chàm được thể hiện qua nhân vật Huyền Phi, thứ phi của hoàng đế Thuận Thành (một sáng tạo kết hợp giữa vua Thành Thái và vua Duy Tân), một thiếu nữ Chàm xuất thân từ nghề lái đò trên dòng Hương giang, được tiến cung làm hoàng hậu. Dòng tộc mẫu hệ dân Chàm của Huyền Phi kết hợp với dòng dõi hoàng gia Nguyễn đã tạo ra bốn đời các nhi nữ phi thường (Huyền Phi, cô lái đò; Quế Hương, tức Ngoại Quế thâm trầm và đau khổ; bà dì Sâm Hương, một nữ anh hùng của Việt Minh; Mi Sương, người con gái thích làm vườn; Mị Uyên, người xử nữ tập hát). Không gian của truyện bao gồm cả vùng sông nước trữ tình, với những giọng hò Nam ai-Nam bình ai oán sầu thương, với hình ảnh của một cô lái đò tượng trưng cho ánh trăng Dương Thiệu Tước: “tìm trăng, trăng khuất đã lâu” sau dãy lâu đài của vua chúa trong “Đêm tàn bến Ngự”.

Truyện do bốn nữ nhân vật chính, thuộc bốn thế hệ, kể lại từ ngôi thứ nhất. Họ là nạn nhân hứng chịu những hậu quả gây ra bởi phái nam và cũng bởi định mệnh. Ðêm đêm, họ chong mắt đối diện với bản mặt của bạo tàn (The Face of Brutality):

“Tôi nhận ra nó. Cái bản mặt đó. Đường viền của khuôn mặt hòa lẫn trong bóng đêm không cho nó hình thù. Nhưng tôi biết nó đang nhe nanh đe dọa mình, vì từ cặp nhãn quang dã thú đấy lóe lên những ánh mắt theo dõi từng động tác tôi. Nhiều năm rồi tôi vẫn đứng đây nhìn bóng đêm, cảm nhận được sự hiện diện và nhận ra gương mặt đó... Nó trêu chọc tôi hằng đêm, bảo chờ đợi làm gì nữa. Nhưng tôi vẫn chờ, cứ chờ. Một đêm qua lại một đêm khác đến.” (Cung nữ Huyền Phi; trang 39).
Truyện cũng khuyên các nhân vật: "Hãy đợi chờ, hãy kiên nhẫn đợi chờ... (Wait, and wait patiently). Như nàng “Vọng Phu, trăm năm tượng đá vẫn trông chừng bể Đông, giữ gìn bờ cõi Việt Nam. Người thiếu phụ chờ chồng đã trở nên nỗi đau của người đàn bà Việt Nam trong thời chiến. Và chính nàng đã trở thành văn hóa của dân tộc." (trang 38)

Cuối cùng, kết quả của sự đợi chờ vẫn chỉ là những mong ước. Như những điệp khúc trong bài “Chờ nhìn quê hương sáng chói” của Trịnh Công Sơn.

Nơi đây tôi chờ, nơi kia anh chờ
Trong căn nhà nhỏ Mẹ cũng ngồi chờ
Anh lính ngồi chờ trên đồi hoang vu
Người tù ngồi chờ bóng tối mịt mù
Chờ đã bao năm, chờ đã bao năm, chờ đã bao năm...
Chờ tin mừng sông chờ núi cũng chờ mong
Chờ trên vừng trán mẹ thắp lên bình minh
Chờ khô nước mắt, chờ đá reo ca
Chờ áo cơm nuôi cho những trẻ con không nhà
Chờ ngày Việt Nam thống nhất cho những tình thương vỡ bờ...

Những câu chuyện các nữ nhân vật kể, tuy là tiếng nói của từng thời đại, nhưng đều có thể được xem là hiện thân hay đầu thai của Mị Uyên, chắt của Huyền Phi. Liệu những người con gái của sông Hương (và cả những người con gái Việt Nam khác) có thể đi theo tiếng gọi của tình yêu mà không phải chịu sự chi phối của hoàn cảnh và lịch sử? Liệu tâm tư họ có thể vừa có thể chất chứa những dục vọng bình thường, lại vừa trĩu nặng vì hoàn cảnh đất nước? Những xung đột vừa âm ỉ, vừa mãnh liệt này được thể hiện qua cá tính, tâm trạng, tình cảnh khác nhau của bốn đời phụ nữ (và các nhân vật liên hệ) trong tiểu thuyết, kết tụ lại ở số phận của Mị Uyên.

Ngoài ra, truyện cũng tường thuật những biến chuyển quan trọng của thời cuộc cũng như cuộc đời của các nhân vật phụ như Sylvain Foucault, quan khâm sứ Pháp, ông nội của Andre Foucault (người tình của Mị Uyên); hoạn quan Sơn La và tì nữ Mệ Mai (cả hai đều là thân cận của hoàng hậu Huyền Phi); công chúa Sâm Hương (Princess Ginseng), người đi theo Việt Minh; ông Christopher Sanders, một phóng viên người Mỹ (chồng của Mị Uyên). Họ là những nhân vật lịch sử hay tạo nên lịch sử.

Đọc xong Những người con gái của sông Hương, độc giả Việt không khỏi ngậm ngùi cho thân phận của nhân vật chính, cho thân phận của đất nước. Người ngoại quốc có lẽ cũng sẽ cảm động trước mối tình của Mị Uyên và Andre Foucault, cũng như trước lịch sử quá khắc nghiệt của dân tộc Việt. Tuy vậy, độc giả Việt, nhất là phái nam, sẽ phải tự hỏi: ngoài nhân vật vua Thuận Thành, vì sao câu truyện không đả động đến một người đàn ông Việt có tầm vóc nào? [1]

Tháng Tám 2005
© 2005 talawas
REPRINTED HERE UNDER FAIR USE EXCEPTION TO COPYRIGHT

[1]Tác giả cho biết sẽ có nhân vật Từ Hải trong tác phẩm tới chưa xuất bản của bà.

DOAN NHA VAN -- LITERARY CRITIQUE: DAUGHTERS OF THE RIVER HUONG, VIETNAMESE TRANSLATION


Phê bình và nhận định văn học: Đoàn Nhã Văn và "Con Gái Của Sông Hương" -- SYM BOLISM AND COLLECTIVE SUBCONSCIOUSNESS IN "DAUGHTERS OF THE RIVER HUONG"
ĐOÀN NHÃ VĂN
Con Gái của Sông Hương
đọc Daughters of The River Huong.
của Dương Như Nguyện
Mỗi nhà văn có những nỗi ám ảnh riêng. Và mỗi một cuốn tiểu thuyết được viết ra, thường bắt đầu bằng một trong những ám ảnh đó. Có thể là một vùng không gian, hay một khoảnh khắc thời gian. Cũng có thể là ám ảnh về một hay vài nhân vật trong cuộc sống mà họ không thể nào quên nổi. Nỗi ám ảnh càng lớn, càng thôi thúc nhà văn đẩy những con chữ của mình ra những trang giấy trắng để hoàn thành một tác phẩm nghệ thuật. Với Dương Như Nguyện, theo tôi nghĩ, tiểu thuyết Con Gái Của Sông Hương (CGCSH), cũng khởi đi bằng nỗi ám ảnh từ một con sông băng mình qua miền Trung nước Việt. Sau đó, những nhân vật chính lần lượt xuất hiện, và khi xuất hiện, họ đã trở thành tâm điểm của nhà văn, để tạo nên một CGCSH lôi cuốn.
Con Gái Của Sông Hương là một tổng hợp năm phần hồi ký, dàn trải phận người qua 4 thế hệ, không theo trục quay của thời gian, mà bắt đầu từ Nữu Ước vào năm 1985, ngược về Huế những năm đầu 1910, sau đó túa tản ra khắp nơi, rồi kết thúc tại Sài Gòn, 1994. Tác phẩm xoáy sâu vào những người phụ nữ, những người mà cuộc đời thường được gắn chặt hay khởi đi từ dòng Hương giang.
Nếu nhìn theo trục quay của thời gian, CGCSH mang những vết đau của thời thế từ những biến động trên đất nước hình chữ S, bắt đầu từ những năm đầu 1910’s, đã hằn lên trên những phận người: những người đàn bà trong cơn dâu bể. Từ Huyền Phi, một người con gái mang dòng máu Chăm-pa, xuất thân từ một cô lái đò. Thế hệ thứ hai, hai chị em sinh đôi, rồi lớn lên, một người ở lại Huế, một người ra Bắc, “đi làm cách mạng”. Nhưng rồi cũng trở về, chịu một số phần đau khổ cuối đời. Thế hệ thứ ba, lớn lên tại Huế, xuôi Nam, sinh sống tại Sài Gòn. Thế hệ thứ tư, thế hệ của những mùa trăng mới lớn, đã chứng kiến cảnh di tản có một không hai trong lịch sử, để rồi một người trong số họ phải đánh đổi đời con gái để lấy những tấm thông hành, đưa được gia đình ra đi trong những ngày miền Nam hấp hối. Sau một thời gian sống, học tập và thành đạt, Simone, thế hệ thứ tư, với một sức sống mãnh liệt, một lưu dân sống trên đất khách, về Sài Gòn, Huế, tìm lại những kỷ vật thân yêu, nghe những bước chân lạc lõng giữa phố thị đông người, thấy lòng cô liêu vô bờ bến, trước sự quay cuồng trong cơn lốc xoáy của những cảnh đời chung quanh. Bốn thế hệ là dài nếu so với một đời người. Bốn thế hệ lại là quá ngắn so với bao ngàn năm chịu đựng của người phụ nữ, những người mà vận mệnh luôn gắn liền với chiến tranh, đau thương, trôi nổi, tan tóc, điêu linh, khốn khổ, chia cắt, thất tán của một dân tộc. Dù là bốn thế hệ hay bốn ngàn năm, niềm đau vẫn là niềm đau, vết sẹo vẫn mãi là vết sẹo. Niềm đau của Huyền Phi, của Quế Hương, của Sâm Hương, hay của Simone Mỵ Uyên v.v. là những niềm đau chung, trong cơn biến động chung của lịch sử. Hình ảnh người phụ nữ từ thế hệ đầu tiên đến Mỵ Uyên hôm nay có thể xem là một hình ảnh xuyên thời gian. Nói một cách khác, Huyền Phi chính là “tiền thân” của Mỵ Uyên, hay Mỵ Uyên chỉ là sự “sống lại” của Huyền Phi. Bốn thế hệ là một người, hay một người sống xuyên qua bốn thế hệ, thực ra không có gì khác. Bởi tất cả đều phải gánh chịu những phần số của mình. Có khác chăng chỉ là thời gian mà họ sống, và sự chờ đợi cho mỗi “kiếp” người có khác nhau!
CGCSH thiếu vắng bóng dáng đàn ông. Thực ra, chỉ thiếu vắng những người đàn ông Việt! Bóng dáng mờ nhạt của vị vua trẻ của triều Nguyễn, cái yếu đuối của vị thái giám Sơn La.v.v. chưa phải là những người đàn ông trụ cột. Bởi Vua, rồi cũng bị đi đày, và vị thái giám cả một đời lo cung phụng, hầu hạ những người khác, làm sao là chỗ dựa vững chắc cho phận nữ nhi trong cơn loạn lạc? Trong khi đó, những gã đàn ông mắt xanh mũi lõ, từ những miền đất khác, xuất hiện. Họ dùng sức mạnh của vũ khí, để độc quyền phân chia một đất nước, không thuộc về họ, thành những “Kỳ” khác nhau để dễ thống trị! Khi lịch sử thay đổi, lại người đàn ông khác xuất hiện dưới danh nghĩa “đồng minh”. Khi đồng minh vững vàng ở ngôi vị, họ quyết định mọi thứ. Khi thế cuộc thay đổi, họ quay mặt sang hướng khác, và một bàn tay chìa ra: cứu vớt. Cứu vớt đi kèm với điều kiện. Và điều kiện đó đã giẫm lên nỗi hy sinh của người con gái sông Hương.
Lồng trong một không khí loạn ly, thất tán, CGCSH còn dựïng nên một chuyện tình đẹp giữa Andre và Simone. Một mối tình khác màu da, khác ngôn ngữ. Một mối tình mở ra và kéo dài trong một quãng thời gian với nhiều con sóng lịch sử đã phủ chụp lên một đất nước khổ đau, mang hình dạng của một một giọt nước mắt lăn dài. Huế, Sài Gòn, Ba Lê, Nữu Ước, một không gian rộng cho một mối tình khác thế hệ. Rộng, để thử thách, và gian nan để đánh giá lòng người. Tấm lòng Andre dành cho Simone là tấm lòng của một người đứng bên ngoài nền văn hóa Á đông mà cảm thông được thân phận nhược tiểu của người mình yêu, mà hiểu được tâm linh của người mình mến, và những người đàn bà trong cùng dòng họ của Simone. Bởi thế, trong hồi ký của mình, Simone đã ghi lại mối tình bất diệt, vượt ra ngoài cõi tạm. “Định mệnh của chàng gắn liền với số mệnh của tôi, trong một sự ràng buộc mầu nhiệm không giải thích bằng lời nói được. (...) Khi tôi hiểu thấu sợi dây ràng buộc giữa chàng và tôi, mối tình của tôi đối với chàng trở thành tấm tình đối với chính nhân bản tính trong tôi, đối với quê mẹ và xứ sở chôn nhau cắt rún, và đối với bao nhiêu thế hệ người tị nạn chính trị – những người luôn mang một niềm luyến tiếc, những người vô gia cư trong địa cầu của họ, không xứ sở trong thế giới lang thang của chính họ.”
Đây là một mối tình đẹp, xuyên thời gian, xuyên lục địa. Tuy nhiên, theo tôi, cái phận đàn bà trong những cơn biến động lịch sử, qua CGCSH, lớn quá. Cái bóng khổ đau của những nhân vật nữ bao trùm rộng quá, nên đã che bớt những điều khác mà tác giả muốn gởi gắm, trong đó có mối tình dị chủng.
***
Một mô tip khá rõ nét trong truyện của DNN, từ tác phẩm đầu Mùi Hương Quế đến CGCSH: sự chờ đợi. Sự chờ đợi của những người đàn bà càng rõ ràng hơn, mang nhiều nỗi âu sầu, u uẩn hơn qua CGCSH. Bắt đầu từ sự chờ đợi của một Huyền Phi, chờ đợi sự đoái hoài của một quân vương. “Đã nhiều năm qua rồi, tôi vẫn thường đứng đây nhìn vào đêm tối, linh cảm sự hiện diện của Khuôn Mặt, và nhìn thấy nó. Tôi gọi nó là Khuôn Mặt của Bạo Tàn. Nó giễu cợt tôi hằng đêm, bảo tôi ngưng ngóng đợi. Nhưng tôi vẫn đợi, vẫn chờ. Đêm này qua, đêm khác tới”. Sự chờ đợi đó, tiếp nối đến thế hệ thứ hai, qua hình ảnh Ngoại Quế. Một người cứng cỏi và bao dung; chở che và rộng lượng. Vậy mà, trong những giấc mơ, bà bật khóc. Bà mơ gì? Vẫn là sự chờ đợi, nhưng không còn chờ đợi một hình bóng rõ ràng, không chờ đợi một tình thương ban phát như mẹ của mình. Bà chờ đợi để ...vớt những cỗ quan tài. Sự chờ đợi đó còn hiển hiện ở những nhân vật khác, trong nhiều giai đoạn khác nhau. Nó cho thấy, đời sống luôn bất toàn. Cái không cần đến nhưng lúc nào cũng phủ chụp, vây lấy đời người. Cái mong ước, luôn lại là những điều không bao giờ thực hiện được. Và vì thế, sự chờ đợi luôn luôn có trong tiềm thức. Và cũng như một bản năng: chờ đợi cũng là nuôi một hy vọng, dù những hy vọng đó nằm ngoài hiện thực.
CGCSH trộn lẫn giữa thực và ảo. Khi cái thực chưa đủ bẩy lên điều tác giả muốn gởi gắm, cái ảo được sử dụng để đưa những điều ấy đến gần độc giả. Một trong số những hình ảnh ảo là một nhân vật đặc biệt, đó là “khuôn mặt của Bạo Tàn”. Chỉ có những nhân vật khác, trong truyện, mới “thấy” được khuôn mặt của nhân vật này. Chúng ta không thấy, nhưng dự “cảm” được một khi nhân vật này sắp xuất hiện. Nhân vật này tạo nên nỗi bất an. Nhưng quan trọng hơn, theo tôi, nhân vật này tạo sự tương tác giữa người viết và người đọc. Nó mở ra những suy đoán, những lý giải khác nhau tùy theo góc nhìn văn hóa và lịch sử của mỗi người. Thêm vào đó, CGCSH còn mang những mối hoài nghi. Hoài nghi những dấu ấn của lịch sử, hoài nghi với thực tại, hoài nghi với tất cả những gì đang xảy ra chung quanh. Sự hóa thân, như đã nói, cộng thêm sự hoài nghi trong tâm thức, mang những dấu vết của tiểu thuyết hiện đại. Đặc biệt ở sự hoài nghi. Nó chối từ sự tuyệt đối của công lý, của lịch sử được viết bởi những nhà biên niên sử, của ý thức hệ, và ngay cả tình cảm cho và nhận của những con người sống trong cùng một thời gian. Hoài nghi trong suy nghĩ và huyền ảo trong hình ảnh, không phải là chối bỏ hiện thực, mà là vượt qua bờ hiện thực, để đẩy được những điều muốn chuyên chở lên trang sách, mà chỉ có tiểu thuyết mới chuyên chở nổi.
***
Một trong những thủ pháp nghệ thuật nổi bật trong CGCSH là tính ẩn dụ. Ẩn dụ thì thường hằng, xuất hiện rất nhiều trên những trang sách của các nhà văn. Có gì mới? Không, điều đặc biệt ở đây là sự ẩn dụ không phải ở hình tượng nhân vật, cũng không phải trong ngôn ngữ đối thoại. Ẩn dụ trên những trang chữ của Dương Như Nguyện mang những nét văn hóa đặc trưng từ hình tượng sự vật, những vật tưởng chừng như vô tri, vô giác, lại nói lên rất nhiều điều. Điển hình như chiếc sập gụ và những cỗ quan tài. Đây là những hình ảnh đắc địa của tiểu thuyết.
Chiếc sập gụ bắt đầu từ thế hệ thứ nhất. Nó là món quà đặc biệt mà Vua Thuận Thành đã ban tặng cho Huyền Phi, khi bà có mang đến tháng thứ bảy, hy vọng bà sẽ sinh con trai. Có con trai là sẽ có những người đàn ông. Có những người đàn ông là sẽ có những cột trụ chống giữ bão táp, phong ba giữa cuộc đời. Nhưng cuối cùng, bà Huyền Phi không có con trai. Chỉ có con gái. Không chỉ con gái, mà là gái sinh đôi. Một sinh đôi, về sau lại ngã về hai hướng, như truyền thuyết ngày xưa, kẻ lên rừng, người xuống biển. Chọn lựa hay định mệnh? Chiếc sập gụ cũng nổi trôi theo vận nước như một đời người. Đến đới thứ tư, chiếc sập gụ đã vào tay kẻ khác sau cơn lốc đổi đời. Simone tìm về sập gụ như tìm về nguồn cội. Tìm về để thấy, để hãnh diện cội nguồn còn đó, và sừng sững giữa chốn tù đọng, bẩn thỉu của cái ô nhiễm xung quanh.
“Tôi vén màn lên và trố mắt nhìn.
Dưới chiếc màn muỗi rách, cái sập “chân quỳ” bằng gỗ sơn mài quá hào nhoáng và trang trọng trong khung cảnh nghèo nàn xung quanh, cái sập đứng điềm tĩnh trong một góc tối, như thể đã đợi tôi về trong suốt thời gian qua. Mặc dù có nhiều vết xây sướt và những mảnh khảm xà cừ đã chịu nhiều sứt mẻ, cái sập vẫn còn ngạo nghễ phô trương nét sơn bóng trong môi trường bẩn thỉu.
Cái sập vua ban cho Huyền Phi yêu quý, vẫn còn chờ đợi tôi.”(...)
Tôi cảm nhận hơi mát và nhẵn của mặt gỗ gụ dưới lưng và tứ chi. Đâu đây, tôi vẫn còn nghe tiếng Ngoại Quế bên tai, cũng trên chiếc sập này, khi tôi bắt gặp nước mắt chảy ròng ròng trên má ngoại. Rất hiếm khi Ngoại khóc.”
Từ cái sập gụ, Dương Như Nguyện đi một bước nữa, xa hơn, dựng thêm một hình ảnh khác, mà hình ảnh này, khi đứng song song với sập gụ, tạo nên một sự tương phản, bẩy lên tính liên tưởng ngút ngàn. Hình ảnh đó, chính là những chiếc ...quan tài.
“Trong tiếng nức nở, ngoại kể cho tôi nghe cơn ác mộng của ngoại. Trong giấc mộng, ngoại đang ngồi một mình bên bờ sông, trước mắt ngoại nước sông trôi lờ đờ, dòng nước mát trôi xuôi, rõ ràng là ngoại nhìn thấy dòng nước lạnh đang chuyển động, nhưng tất cả không gian vẫn im lặng một cách ma quái. Trong sự im lặng tuyệt đối, dòng sông vẫn trôi, mặc dù thời gian dường như ngưng lại.
Có những vật gì đang trôi theo dòng nước. Những vật ấy cũng trôi lặng lờ, không một tiếng động.
Quan tài, đó là những quan tài đang trôi trên mặt nước, nhiều quá, ngoại không đếm xuể...”
Quan tài! Quan tài là hình ảnh tử biệt. Quan tài là hình ảnh mất mát, không bao giờ lấy lại được. Quan tài là nấc cuối cùng của sự chịu đựng. Nhìn xa hơn, chúng ta thấy hé lộ phần nào tư tưởng của nhà văn qua hai hình ảnh ẩn dụ này. Thử đặt chúng song song với nhau.
Sập gụ và quan tài.
Chiếc sập gụ là chỗ nằm. Chỗ nằm của người sống.
Cỗ quan tài cũng là chỗ nằm. Chỗ nằm của người chết.
Một cái mở ra, cái kia đóng lại. Cái khai sinh sự sống, vật báu của Vua ban; cái khép lại một đời người, đi về bên kia thế giới. Giàu nghèo cũng một cỗ quan tài. Trăm năm trong một chỗ nằm! Xa hơn nữa, một thế hệ chịu đựng để ngồi vớt những cỗ quan tài. Trong khi đó, một thế hệ mới tìm về nguồn cội, tìm về cái khai sinh ra sự sống. Đó là ý chí mãnh liệt. Đó là thúc đẩy kỳ cùng. Và đó cũng là sự hướng tới, tìm về quá khứ để làm bàn đạp bước tới tương lai. Đối lập nhau nhưng đẹp. Cái đẹp đòi hỏi “nội lực” trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ.
Cũng nên nói thêm ở đây, mô típ chờ đợi và hình ảnh ẩn dụ cho thấy: “tiền thân” của CGCSH chính là tập truyện Mùi Hương Quế. Có điều khác, ở CGCSH, Dương Như Nguyện khai triển và đẩy những mô típ này đi xa hơn tập truyện ngắn đầu tay.
***
Sông Hương là nỗi ám ảnh. Làm thân con gái là mang những niềm đau. Con gái của sông Hương vừa là nỗi ám ảnh tột cùng, vừa là nỗi đau xuyên thế hệ. Ngoài chứng tích của thời thế, Con Gái Của Sông Hương còn mở ra nhiều điều suy nghĩ, về phận người, nhất là phận người trong một nước nhược tiểu: mình không làm chủ được mình. Trong một nước nhược tiểu, lại “thiếu” những người đàn ông “thực sự”, thì những người đàn bà suốt đờiø cô độc như những mái chèo trên sóng nước, và trong số họ, nhiều người gắn chặt với số mệnh: đợi chờ. Không chỉ đợi chờ, mà đợi chờ để vớt những cỗ quan tài!
Với Con Gái Của Sông Hương và những tiểu thuyết xuất bản gần đây nhất, đặc biệt của những nhà văn nữ, chúng ta được quyền hy vọng về tiểu thuyết Việt Nam trong những ngày sắp tới.
Đoàn Nhã Văn
nguồn: gio-o
Back to top
Phượng Các #30 Posted : Sunday, July 1, 2012 2:43:34 PM(UTC)
Phượng Các
Rank: Advanced Member
Groups: Administrators
Joined: 6/24/2012(UTC)
Posts: 17,542
Points: 16,562
Woman
Location: Golden State, USA
Was thanked: 414 time(s) in 381 post(s)
SOURCE: VIETBANG.COM
PHOTOS: TRANSLATION COPIES AND COVER, FIRST EDITION

Thursday, September 19, 2019

DEM ME LINH BY VAN GIANG AND HOANG OANH

i think this is one of the best Vietnamese songs. Van Giang is definitely not your ordinary Vietnamese songwriter.  The song is good because it is what it is, no need to analyze or compare. 

There is a haunting quality in the lyrics and the melody, the sceneries it portrays.  In this performance, the haunting quality is lost.  But Hoang Oanh's voice is so anchored in her young days, so precise her articulation of Vietnamese diction, that the performance holds itself.   Her pitch is perfect, and i think pitch is what created a Vietnamese singer in the old days, pre 1975. Pitch is like youth. Until you lose it, you take it for granted.  Hoang Oanh has a unique quality about her vocal. Listeners know it's hers.  They recognize her, no matter what.  This is her natural voice, unaltered by any Western techniques.  

She is the best poetry recital artist as well, due to her perfect pitch and unique vocal quality.  



https://www.youtube.com/watch?v=KhgCN88DSFg&fbclid=IwAR2wgfURjNVGbTZUdZlO9R7aYz0M9Bq8vgAn4w8LwPfIYuahBRL4qEd3q60

Thursday, September 12, 2019

TOI DI HOC

TÔI MẤT CHA...

Mat cha, lai la nguoi cha lam nghe giao, thi toi khong the nao khong nho lai ban van cua Thanh Tinh. Toi doan chac ai trong the he cua toi va the he di truoc toi deu biet bai van nay (hai doan toi nha^'n ma.nh), neu duoc giao duc vo~ lo`ng o VN truoc 1975:


    TÔI ĐI HỌC 
    (Truyện ngắn của Thanh Tịnh) 
    Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. 
    Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng. 
    Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã. 
    Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học. 
    Tôi không lội qua sông thả diều như thằng Quý và không ra đồng nô hò như thằng Sơn nữa. 
    Trong chiếc áo vải dù đen dài tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn. 
    Dọc đường tôi thấy mấy cậu nhỏ trạc bằng tôi, áo quần tươm tất, nhí nhảnh gọi tên nhau hay trao sách vở cho nhau xem mà tôi thèm. Hai quyển vở mới đang ở trên tay tôi đã bắt đầu thấy nặng. Tôi bặm tay ghì thật chặt, nhưng một quyển vở cũng chì ra và chênh đầu chúi xuống đất. Tôi xóc lên và nắm lại cẩn thận. Mấy cậu đi trước o sách vở thiệt nhiều lại kèm cả bút thước nữa. Nhưng mấy cậu không để lộ vẻ khó khăn gì hết. 
    Tôi muốn thử sức mình nên nhìn mẹ tôi: 
    - Mẹ đưa bút thước cho con cầm. 
    Mẹ tôi cúi đầu nhìn tôi với cặp mắt thật âu yếm: 
    - Thôi để mẹ nắm cũng được. 
    Tôi có ngay cái ý kiến vừa non nớt vừa ngây thơ này: chắc chỉ người thạo mới cầm nổi bút thước. 
    Ý nghĩ thoáng qua trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi. 
    Trước sân trường làng Mỹ Lý đầy đặc cả người. Người nào áo quần cũng sạch sẽ, gương mặt cũng vui tươi và sáng sủa.  
    Trước đó mấy hôm, lúc đi ngang làng Hòa An bẫy chim quyên với thằng Minh, tôi có ghé trường một lần. 
    Lần ấy trường đối với tôi là một nơi xa lạ. Tôi đi chung quanh các lớp để nhìn qua cửa kính mấy bản đồ treo trên tường. Tôi không có cảm tưởng gì khác là nhà trường cao ráo sạch sẽ hơn các nhà trong làng. 
    Nhưng lần này lại khác. Trước mặt tôi, trường Mỹ Lý vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình Hòa Ấp. Sân nó rộng, mình nó cao hơn những buổi trưa hè đầy vắng lặng. Lòng tôi đâm ra lo sợ vẩn vơ. 
    Cũng như tôi, mấy cậu học trò mới bỡ ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nữa hay dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim con đứng trên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ. Họ thèm vụng và ước ao thầm được như những học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ. 
    Sau một hồi trống thúc vang dội cả lòng tôi, mấy người học trò cũ đến sắp hàng dưới hiên rồi đi vào lớp. Chung quanh những cậu bé vụng về lúng túng như tôi cả. Các cậu không đi. Các cậu chỉ theo sức mạnh kéo dìu các cậu tới trước. Nói các cậu không đứng lại càng đúng hơn nữa. Vì hai chân các cậu cứ dềnh dàng mãi. Hết co lên một chân, các cậu lại duỗi mạnh như đá một quả banh tưởng tượng. Chính lúc này toàn thân các cậu cũng đang run run theo nhịp bước rộn ràng trong các lớp. 
    Ông đốc trường Mỹ Lý cho gọi mấy cậu học trò mới đứng lên trước lớp ba. Trường làng nhỏ nên không có phòng riêng của ông đốc. Trong lúc ông đọc tên từng người, tôi cảm thấy như quả tim tôi ngừng đập. Tôi quên cả mẹ tôi đang đứng sau tôi. Nghe gọi đến tên, tôi tự nhiên giật mình và lúng túng. Sau khi đọc xong mấy mươi tên đã viết sẵn trên mảnh giấy lớn, ông đốc nhìn chúng tôi nói sẽ: 
    - Thế là các em đã vào lớp năm. Các em phải cố gắng học để thầy mẹ được vui lòng, và để thầy dạy chúng em được sung sướng. Các em đã nghe chưa? (Các em đều nghe nhưng không em nào dám trả lời. Cũng may đã có tiếng dạ rang của phụ huynh đáp lại). 
    Ông đốc nhìn chúng tôi với cặp mắt hiền từ và cảm động. Mấy cậu học trò lớp ba cũng đua nhau quay đầu nhìn ra. Và ngoài đường cũng có mấy người đứng dừng lại để nhìn vào. Trong những phút giây này chúng tôi được người ta ngắm nhìn nhiều hơn hết. Vì vậy đã lúng túng chúng tôi càng lúng túng hơn. 
    Ông đốc lấy cặp kính trắng xuống rồi nói: 
    - Thôi, các em đứng đây sắp hàng để vào lớp học. 
    Tôi cảm thấy sau lưng tôi có một bàn tay dịu dàng đẩy tôi tới trước. Nhưng người tôi lúc ấy tự nhiên thấy nặng nề một cách lạ. Không giữ được chéo áo hay cánh tay của người thân, vài ba cậu đã từ từ bước lên đứng dưới hiên lớp. Các cậu lủng lẻo nhìn ra sân, nơi mà những người thân đang nhìn các cậu với cặp mắt lưu luyến. Một cậu đứng đầu ôm mặt khóc. Tôi bất giác quay lưng lại rồi dúi đầu vào lòng mẹ tôi nức nở khóc theo. Tôi nghe sau lưng tôi, trong đám học trò mới, vài tiếng thút thít đang ngập ngừng trong cổ. Một bàn tay quen nhẹ vuốt mái tóc tôi. 
    Ông đốc nhẫn nại chờ chúng tôi. 
    - Các em đừng khóc. Trưa này các em được về nhà cơ mà. Và ngày mai các em lại được nghỉ cả ngày nữa. 
    Sau khi thấy hai mươi tám cậu học trò sắp hàng đều đặn dưới hiên trường, ông đốc liền ra dấu cho chúng tôi vào lớp năm. Một thầy trẻ tuổi, gương mặt hiền từ, đang đón chúng tôi vào cửa lớp. Trong thời thơ ấu tôi chưa bao giờ xa mẹ tôi như lần này. Tôi cũng lấy làm lạ vì có nhũng hôm đi chơi suốt cả ngày với chúng bạn ở đồng làng Lệ Xá, lòng tôi vẫn không cảm thấy xa nhà hay xa mẹ tôi chút nào hết. 
    Một mùi hương lạ xông lên trong lớp. Trông hình gì treo trên tường tôi cũng thấy lạ và hay hay. Tôi nhìn bàn ghế chỗ tôi ngồi rất cẩn thận rồi tự nhiên nhận là vật riêng của mình. Tôi nhìn người bạn tí hon ngồi bên tôi, một người bạn tôi chưa hề biết, nhưng lòng tôi vẫn không cảm thấy sự xa lạ chút nào. Sự quyến luyến ấy tự nhiên và bất ngờ quá đến tôi cũng không dám tin là có thật. Một con chim con liệng đến đứng trên bờ cửa sổ, hót mấy tiếng rụt rè rồi vỗ cánh bay cao. 
    Tôi đưa mắt thèm thuồng nhìn theo cánh chim. Một kỷ niệm cũ đi bẫy chim giữa cánh đồng lúa bay trên bờ sông Viêm sống lại đầy dẫy trong trí tôi. 
    Nhưng những tiếng phấn của thầy tôi gạch mạnh trên bảng đen đã đưa tôi về cảnh thật. Tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm bẩm đọc: 
    Bài tập viết: Tôi đi học! 
    THANH TỊNH [Rút từ tập truyện ngắn QUÊ MẸ, 1941] 

Tuesday, July 30, 2019

for viet readers: the novelistic art -- phan loai tieu thuyet

My favorite novella (long short story),
translation by my father, Dr. Nhu Duc Dzuong,
formerly of the Faculty of Letters,
University of Saigon (pre-1975)



PHỎNG VẤN DƯƠNG NHƯ NGUYỆN VỀ VIỆC PHÂN LOẠI TIỂU THUYẾT Ở NƯỚC MỸ
THỰC HIỆN BỞI PHƯỢNG CÁC, WEB PHỤ NỮ VIỆT, 2005.
Độc giả (Phượng Các): Bà nói với báo Nhà, năm 2005, rằng trong tương lai sẽ viết tiểu thuyết thương mại. Như thế có nghĩa là sao?
 “Tiểu thuyết thương mại” dịch từ chữ “commercial fiction.” Tôi xin cắt nghiã như sau:
Trước hết muốn hiểu v/d phân loại tiểu thuyết thương mại, chúng ta phải bắt đầu bằng thể loại "tiểu thuyết văn chương."
Tiểu thuyết văn chương là một truyền thống viết văn, một thể viết văn, một hình thức nghệ thuật tiểu thuyết đã trở thành một thông lệ rất nhất định từ nhiều thế kỷ, trên toàn thết giới. Thông lệ và thể thức rất quan trọng cho bộ môn phê bình văn học.
“Tiểu thuyết văn chương” khác với những tác phẩm mà các nhà phê bình gọi là “tiểu thuyết phân loại” (dịch chữ“genre fiction”), chẳng hạn như “tiểu thuyết trinh thám,’ “tiểu thuyết yêu đương tình cảm phụ nữ,” “tiểu thuyết kinh dị,” “tiểu thuyết khoa học giả tưởng,” vân vân và vân vân.
Các loại tiểu thuyết mà tôi mới nêu trên, gọi chung là “genre fiction,, dịch nôm na là “tiểu thuyết phân loại,” thông thường viết rập khuôn theo công thức mà không đặt vấn đề sâu xa hơn, nhằm bán cho quần chúng một hình thức “mua vui” (entertainment) và vì thế rất ăn khách, có thể bán hàng triệu cuốn.
Các “tiểu thuyết phân loại” này đều là những thể dạng khác nhau của “tiểu thuyết thương mại.”
“Tiểu thuyết văn chương” dịch từ chữ “literary fiction.” “Tiểu thuyết thương mại” dịch từ chữ “commercial fiction.”   
Tuy nhiên, cũng có những tiểu thuyết thương mại viết rất tuyệt vời và trở thành một sản phẩm văn chương lưu truyền, được đem học trong trường lớp. Đồng thời, cũng có những “tiểu thuyết phân loại” không dễ dàng gì có thể đem phân loại theo “genre.” Lấy thí dụ, John Grisham viết về thế giới của luật sư. Tác phẩm của Ghrisham rõ ràng là tiểu thuyết thương mại, nhưng thuộc về “genre” gì? Có nhiều nhà phê bình cho rằng đó là “genre” luật pháp hay “genre” tòa án.
Lại có nhiều nhà phê bình cho rằng tác phẩm của Aimy Tan (được truyền tụng là một “tiểu thuyết văn chương”) chính ra cũng chỉ là tác phẩm thương mại mà thôi, thuộc hình thức “phân loại” gọi là“genre” thiểu số hay “genre” dân tộc (ethnic fiction).      
Những tiểu thuyết không thể đem để vào “genre” nào hết mà có giá trị nghệ thuật trường cửu hơn thì gọi chung là “tiểu thuyết văn chương/” Và từ đó có thêm một “phân loại” nữa gọi là “phân loại văn chương.” Đó là “phân loại” khó bán nhất, bán rất ít, nhưng lại là “phân loại” dễ được đem vào lớp học văn chương. (Tuy nhiên, tiểu thuyết thương mại cũng vẫn có thể đem vào lớp học để nghiên cứu về thủ thuật viết văn và “hấp dẫn tính” của tiểu thuyết thương mại).   
Lấy thí dụ là gần đây [2005] trên diễn đàn TALAWAS do bà Phạm Thị Hoài chủ trương có một cuộc bàn luận về tiểu thuyết thương mại của Stephen King – có nên được giải thưởng văn chương hay không. Viết được một tiểu thuyết thương mại bán hàng triệu cuốn làm độc giả say mê như Stephen King không phải là chuyện nhỏ, hay chuyện “bá vơ.”  
 Tiểu thuyết thương mại, đặt nặng vấn đề thị hiếu của thị trường mua vui cho độc giả, không có nghĩa rằng đó là một tiểu thuyết rẻ tiền. Tiểu thuyết thương mại thường thường phải có tình tình tiết éo le, gay cấn, phải có cốt truyện giật gân, cuốn hút độc giả, và thường thường phải có hậu, hay nếu không có hậu, thì cũng phải kết thúc một cách lâm ly làm thỏa mãn người đọc.
Nghệ thuật viết một tiểu thuyết thương mại cho tới cái đỉnh cao của tiểu thuyết thương mại đòi hỏi tài năng, trí tưởng tượng, và nhiều công trình nghiên cứu, và phải bắt mạch độc giả cho đúng. Ian Fleming, người đã tạo dựng nhân vật James Bond là một nhà văn cừ khôi. Tiểu thuyết của ông cũng có thể đem phân loại là “tiểu thuyết thương mại.”
Stephen King là một nhà kể chuyện đại tài, một đầu óc tưởng tượng phong phú. Sidney Sheldon là một người bắt mạch nhu cầu giải trí về tiểu thuyết của nữ giới và quần chúng bình dân khá chính xác (và ông cũng là một nhà viết truyện phim cho Hollywood).  John Grisham viết về thế giới luật sư rất chính xác, vì ông là một luật sư.  Scott Turrow, một luật sư khác, là một văn sĩ mà theo tôi có văn phong dồi dào, cách mô tả nhân vật và tâm lý khá tuyệt vời. Tất cả đều là những nhà văn thương mại. 
Như thế thì làm sao chúng ta biết rằng thế nào là một “tiểu thuyết văn chương”? Tôi xin đưa thí dụ sau đây:
Tôi đang đọc một tuyển tập truyện ngắn của các tác giả châu Mỹ La Tinh, do nhà xuất bản danh tiếng Penguin-Putnam chủ trương.  Dịch giả là Thomas Colchie, được Guggengheim Fellowship, một học bổng văn chương danh tiếng của Hoa Kỳ. Trong tập truyện có một tác giả từ Brazil, một phụ nữ tôi rất thích, bà Claris Lispector. Cầm tập truyện lên, chúng ta biết ngay đây là thể dạng tiểu thuyết văn chương. Vì sao?
Nhân đây xin cho tôi nói thêm về văn sĩ này. Tôi thích bà Claris vì thuở thiếu thời bà rất nghèo (cũng giống tôi và gia đình nhà giáo của tôi). Khi lớn, bà tự đi học luật (cũng giống tôi), và sau đó lấy chồng là một luật sư và nhà ngoại giao (điểm này có phần hơi giống cuộc đời của tôi).  Bà viết rất sớm, năm 16 tuổi (cũng giống tôi), nhưng mãi đến khi lấy chồng, thì bà mới thật sự có phương tiện để “tung hê” ngòi viết.  Tuy nhiên, điểm làm tôi thích bà nhất là ở lối viết của bà – tỉ mỉ và rất nội tâm, đưa vào tâm lý và triết học, có thể nói đọc rất chán, và khi đọc, phải đọc từng chữ, từng câu, không bỏ sót, đi theo tâm lý nhân vật từng bước một, từng chi tiết một, vừa đọc vừa ngẫm nghĩ. Thể dạng viết như thế làm tôi liên tưởng đến ngòi bút của Thomas Mann và cuốn Death in Venice (đã được đem làm phim, và tôi rất thích cuốn phim này).  
Đây là một hình thức tiểu thuyết văn chương rõ ràng. Một hai giáo sư văn chương báo chí của tôi trong dòng chính thì luôn luôn đả kích và cho rằng trong thời buổi này nếu tôi viết theo lối Thomas Mann, tôi sẽ không bao giờ trở thành nhà văn Mỹ cả, vì sẽ không ai chịu xuất bản sách cho tôi.
Những nhà phê bình đứng đắn và các dịch giả nói rằng bà Clarice Lispector viết với một văn phong rất điệu nghệ mà chính xác, và tác phẩm đem lại những hiệu quả triết lý (“a writer of extraordinary stylistic precision and enormous philosophical consequence”).  Đọc Thomas Mann cũng như Clarice Lispector thì thấy rõ ràng tác phẩm của họ là tác phẩm văn chương chứ không thể là tác phẩm thương mại. 
Một cách phân biệt nữa là nhìn vào thể thức viết. Như tôi đã nói, tiểu thuyết thương mại chú trọng đến vấn đề thu hút độc giả, dựa trên cốt truyện và tình tiết biến đổi éo le, “giật gân” (the plot).  
Tiểu thuyết văn chương chú trọng đến “tiếng nói của nhân vật” (the voice). Một bên chú trọng vào cốt truyện, một bên chú trọng vào nhân vật. Tiếng nói của nhân vật, càng rõ rệt, càng nhân bản, càng độc đáo, càng chăm chút, càng tỉ mỉ, càng cô đọng, càng vươn cao, thì “văn chương tính” càng nổi bật hơn, đưa độc giả vào cùng tâm linh, tâm thức, tâm lý rất phức tạp của người cất tiếng nói (cho dù độc giả có thể chán nản và nhức đầu), thay vì chú trọng vào cốt truyện để thỏa mãn thị hiếu độc giả.  Đó là tiêu chuẩn tôi dùng để định giá và phân biệt tiểu thuyết văn chương, cho chính mình.
Tuy nhiên cốt truyện và sự chuyển tiếp (cấu trúc; structure and movement) cũng vẫn là căn bản nòng cốt của tiểu thuyết văn chương. Nếu không có cốt truyện và cấu trúc, tác phẩm trở thành một sự kể lể và ghi nhận (nòng cốt của văn báo chí, hay một loại nhật ký nào đó, nhưng không phải là văn chương tiểu thuyết sáng tạo).
Riêng ở môi trường văn học Việt Nam (không cộng sản), tôi nghĩ không ai chối cãi được rằng Bướm Trắng của Nhất Linh là một tiểu thuyết văn chương, và tiểu thuyết của bà Tùng Long là một hình thức “tiểu thuyết phân loại” rất thịnh hành và dễ được ưa chuộng (genre fiction).
 Còn Mai Thảo thì sao? Nếu có nhà phê bình cho rằng thiểu thuyết của Mai Thảo tương tự như tiểu thuyết của Scott Fitzgerald, thì đó là tiểu thuyết văn chương. Nếu tiểu thuyết của Mai Thảo được xem tương tự như tiểu thuyết của Sidney Sheldon, thì đó là tiểu thuyết thương mại.  Điều đó không có nghĩa là Mai Thảo hoặc Sidney Sheldon rẻ tiền hay không có chút giá trị nào.  Cũng không thể nói rằng tiểu thuyết của bà Tùng Long hay các nhà văn thương mại nổi tiếng của Hoa Kỳ là kém giá trị hay rẻ tiền. Chỉ có thể nói là tác phẩm nhắm đến một giới độc giả khác.
Theo tôi thì Mai Thảo không phải như Fitzgerald, và cũng không phải như Sheldon.
Khi tôi nói trong đời, mình sẽ viết ít nhất là một cuốn tiểu thuyết thương mại, tôi muốn nói thể dạng tiểu thuyết có thể đem ra phục vụ nhu cầu giải trí (entertainment) như kỹ nghệ phim ảnh của Hollywood.  Điều đó không có nghĩa là tôi sẽ viết tiểu thuyết rẻ tiền. Từ trước đến giờ, tôi viết văn không bao giờ nghĩ đến việc có bán được sách hay không, hoặc viết để độc giả vui lòng. Tôi ghét nhất là khi phải đi tìm mại bản văn chương (literary agent) hay đi tìm nhà xuất bản(publisher). Từ trước đến giờ…chưa đi tìm.  
Khi viết để theo đuổi cái nhìn riêng biệt của mình, sự đi tìm cái đẹp riêng mình, mà không chạy theo nhu cầu giải trí hoặc nhằm mục đích lấy cảm tình của độc giả để bán sách cho chạy và được khen, tức là tác giả đã chọn thể loại tiểu thuyết văn chương. 
Nói theo định nghĩa của văn học VN, thì văn là vẻ đẹp, chương là vẻ sáng. Viết cái gì chăng nữa, nếu có vẻ đẹp và vẻ sáng trong đó, cho dù hiện thực tàn bạo xấu xí đến đâu đi nữa, thì vẫn là tiểu thuyết văn chương.
Hiện nay có không biết bao nhiêu sinh viên ở Mỹ học văn chương sáng tác (càng ngày càng ít đi)? Nhưng ai lựa chọn con đường này không có nghĩa là họ kiêu ngạo tự cho rằng tiểu thuyết của mình đã đạt được tiêu chuẩn “vẻ đẹp và vẻ sáng” của giá trị văn chương.
Điều đó chỉ có ý nghĩa là họ đi trên con đường viết theo thể dạng “tiểu thuyết văn chương” mà thôi.
Cho dù tôi viết tiểu thuyết thương mại (theo mô thức entertainment) đi nữa, thì tôi vẫn luôn luôn là một người viết rất chú trọng đến “thể dạng thẩm mỹ” (style). The Asia Review khi nhận xét về cuốn Sông Huong, có gọi tôi là một “literary stylist.” Tôi cảm thấy người đọc ấy đã hiểu được phần nào con đường đi của tôi.
Nói cho cùng, tất cả tiểu thuyết sáng tạo đều phải cung ứng chon nhu cầu đi tìm cái đẹp của nhân loại. Sự thưởng ngoạn cái đẹp là phần “đi tìm niềm vui hoặc ý nghĩa” trong cuộc đời, cho dù đó là niềm vui trong nước mắt hay ý nghĩa xấu xa tiêu cực nào đi chăng nữa. “Mua vui chỉ được một vài trống canh,” Nguyễn Du của Việt Nam đã nói. 
Độc giả (Phượng Các): Qua cuốn Mùi Hương Quế ra đời năm 1999, có rất nhiều độc giả Việt Nam cho rằng bà viết quá táo bạo, “taboo” trong địa hạt tình dục, và đã dùng điều này để phán đoán đời sống cá nhân của bà. Bà nghĩ sao?
Có thể đối với họ thì như thế. Độc giả mốn nghĩ sao cũng được. Tôi chẳng thấy tiểu thuyết của tôi có gì táo bạo.  Cha mẹ tôi, là người đứng sau việc xuất bản Mùi Hương Quế của Nhà Xuất Bản Văn Nghệ năm 1999, là nhà giáo và tương đối là những người thủ cựu của văn hóa Việt Nam, cũng chẳng thấy gì là táo bạo.
Tuy nhiên, câu hỏi này là dịp để tôi phân biệt thế nào là tiểu thuyết sáng tạo và thế nào là hồi ký dựa trên đời sống có thực.  Rất nhiều người đọc trong cộng đồng Việt Nam hoàn toàn không chú trọng đến vấn đề phân loại văn chương: “tiểu thuyết” (fiction) hay là “phi tiểu thuyết” (non-fiction).  Nếu đã gọi là tiểu thuyết, tức là thể loại văn chương hư cấu. Dùng chữ “tiểu thuyết hư cấu” tức là lặp đi lặp lại, và không dùng sát nghĩa chữ “tiểu thuyết.” Trong thể dạng tiểu thuyết, tác giả không chịu trách nhiệm phải đi theo sát sự thực ngoài đời.  Điều đó không có nghĩa rằng tiểu thuyết gia không viết trên kinh nghiệm sống cuả chính mình.  Khi đã gọi là tiểu thuyết, thì độc giả không cần tìm hiểu đâu là sự thực, đâu là hư cấu. Vì ngay trong thể loại "tiểu thuyết" đã là “hư cấu” rồi.
Nhân dịp câu hỏi nêu lên vấn đề "viết táo bạo," tôi xin nói về địa hạt này.  
Tôi đã nói nhều về cái hiện tượng gọi là “đua đòi viết tình dục” với nhà văn/nhà báo/người phỏng vấn Nguyễn Xuân Hoàng, được đăng tải trên Talawas của bà Phạm Thị Hoài.  Văn chương tiểu thuyết sáng tạo là địa hạt xé rách những cái gì gọi là cấm kỵ. Văn chương là nơi chốn của tự do tuyệt đối trong sự sáng tạo.
Thường thường nghệ sĩ được coi là những con người phi đạo đức (amoral). Riêng điều này, tôi không đồng ý. Chúng ta không có thể có sự đồng ý 100 phần trăm thế nào là tiêu chuẩn đạo đức, nhưng đạo đức là căn bản của đời sống nhân loại, làm chúng ta khác thú vật. Sự đi tìm tự do tuyệt đối trong tư tưởng, cảm nghĩ của thế giới văn chương không có nghĩa văn chương là vô nhân bản, phi nhân bản, phi nhân văn, vô đạo đức, phi đạo đức, hay đồi trụy như ma túy cần sa là nọc độc làm hủy hoại con người.
Văn chương sáng tạo đối với tôi là một sự xây dựng, đi tìm cái gì trường cửu hơn cho nhân loại.  Jean Paul Sartre đã nói không có cuốn tiểu thuyết nào hay mà không có giá trị đạo đức nào đó. (Tôi nhắc câu này vì thích hợp, chứ không phải vì tôi thần tượng Sartre).
Các tiểu thuyết thực sự rẻ tiền, thí dụ truyện khiêu dâm (pornography) thì theo tôi không đáng gọi là tiểu thuyết.
Tôi tạm dịch nghĩa đen của tiểu thuyết là “a little essay.” Loại truyện khiêu dâm như một viên thuốc kích thích bán lấy tiền, không kể đến hậu quả, không thể là “a little essay.”
Tuy nhiên, có rất những tác phẩm chú trọng vào vấn đề kích thích dục tính, vừa trở thành tác phẩm văn chương lừng lẫy, vừa bị đem ra quảng cáo và biến hóa thành tác phẩm khiêu dâm.  Điển hình là cuốn History of O, của Pauline Reage nước Pháp.  
Riêng trường hợp tiểu thuyết của Marquis de Sade thì cho đến giờ này vẫn là một vụ án văn chương chưa giải quyết.  Miễn bàn tới.
Khi tiểu thuyết chú trọng vấn đề kích thích tình dục, nhưng cách thức viết tràn trề tính chất nghệ thuật, không bỉ ổi hoặc làm mất giá trị nhân bản, thì tiểu thuyết ấy trở thành "literary erotica," theo tôi trong giới văn học Việt Nam chưa hề có, hoặc có thể đang được bắt đầu, nhưng chưa hề được đem ra bàn cãi nhận định cho đúng chỗ.
Literary erotica cần phải được phân biệt với các “tiểu thuyết phân loại” khác (genre fiction) hoặc “tiểu thuyết văn chương” (literary fiction) trong đó có những “scene” liên quan đến dục tính.
Một literary erotica đúng nghĩa, theo tôi, là một tác phẩm văn chương viết với mục đích khêu gợi tình dục, mô tả hoạt động tình dục của nhân vật. Tuy nhiên sản phẩm không phải là viên thuốc gợi dục, mà vẫn là một bức tranh mang nét đẹp của nhân sinh, là một phần đóng góp quan trọng cho kinh nghiệm sống của nhân sinh. Đó là định nghĩa của tôi về chữ "literary erotica" được một số dịch giả gọi là “tiểu thuyết gợi tình.”
 Nói tóm tắt, theo tôi: (1) literary erotica, có thể là tiểu thuyết văn chương. (2) literary fiction, “tiểu thuyết văn chương” có các chương hay cảnh diễn tả hay liên quan đến đời sống tình dục của nhân vật, không phải là tiểu thuyết gọi tình”. (3) truyện khiêu dâm (pornography) không phải là tiểu thuyết gợi tình, cũng không phải là tiểu thuyết văn chương. 
 Nói tóm lại, truyện khiêu dâm là một hình thức “rác” của chữ nghĩa, ai thích đọc “rác” thì đọc (chẳng khác chi phim con heo XXX), vì thế truyện khiêu dâm không phải là tiểu thuyết gợi tình mà cũng không phải là tiểu thuyết văn chương. Tôi có thể nói rằng theo tôi, truyện khiêu dâm không phải la "tiểu thuyết" dịch sát nghĩa Hán Việt là "a little theme, or a little essay."  
Tất cả các tiểu thuyết gợi tình đều có thể là tiểu thuyết văn chương, nhưng không phải tiểu thuyết văn chương nào cũng là tiểu thuyết gợi tình, chỉ vì tiểu thuyết có một vài cảnh hay cốt truyện liên quan đến đời sống tình dục của con người.     
Hy vọng những điều tôi giải thích trên đây sẽ giúp độc giả khi đọc những bài nhận định vể tiểu thuyết tiếng Việt.
NÓI THÊM -- POSTCRIPT 2019:  Cuộc nói chuyện với chị Phượng Các xẩy ra vào năm 2005 (lúc đó tôi chỉ vừa mới cho ra đời cuốn tiểu thuyết Con Gái Của Sông Hương, ấn bản thứ nhất.)  Hiện nay, trên thị trường Mỹ, một nhà văn gốc Việt đã đoạt giải Pultizer về dạng tiểu thuyết văn chương nói về nước Mỹ và kinh nghiệm Việt Nam. (Tiểu thuyết cuả tôi thì chưa bao giờ đươc gửi đi cho bất cứ cuộc thi văn chương nào ở nước Mỹ cho sách trong nước Mỹ cả, và tôi mất đi khoảng trên 10 năm sáng tác tiểu thuyết vì lý do cá nhân. Tuy nhiên, nội dung những gì tôi nói trên đây vẫn còn xác thực.  Ba cuốn tiểu thuyết văn chương cuả tôi bị để chung vào tiễu thuyết thương mại, tiểu thuyết phân loại, qua nhà xuất bản và nhà bán sách Amazon, là điều tôi hoàn toàn bất bình.)
Lưu ý: hiện giờ, có các học giả lo ngại là, nhìn vào con đường trứớc mặt, dạng tiểu thuyết văn chương đúng nghĩa nhất sẽ không còn nữa trong thế giới internet, netflix, và digital ngảy hôm nay...
WND 2005-2019